NGƯỜI VĂN

NGUYỄN THÀNH PHONG Tặng Nguyễn Quang Lập


Ông hơn tôi một ngàn ngày tuổi
Đáng lý ra phải xưng gọi em, anh
Nhưng tôi cứ ông, tôi ù xoẹ
Là bởi nghe tiếng gọi bạn từ mình.

VĨNH QUYỀN- NHỮNG THÚ THẬT



1. Thú thật quen Vĩnh Quyền từ 1982 nhưng tới 1998 tôi mới thật lòng yêu mến anh. Chỉ vì mặc cảm ông bọ nhà quê ít học gặp cái nhìn cố tình chiếu cố của ông mệ Huế có bộ não trác tuyệt.  Tôi không thích những người giỏi quá, vì với họ tôi là kẻ cực dốt. Vĩnh Quyền giỏi đến nỗi muốn biết gì là biết được cái đó, biết không còn cho ai biết thêm được gì.

Nguyễn Văn Tý, ngồi thức với xa xăm


Kỉ niệm 35 Ngày thống nhất, cũng kỉ niệm luôn ngày sinh nhật của mình he he, mình ngồi ở quán Đo Đo với mấy anh chị em TNXP đồng đội năm xưa của Nguyễn Nhật Ánh, uống rượu và hát liên miên bài này sang bài khác. Mấy cô văn công năm xưa nay đã U50 rồi mà giọng hát vẫn trong vắt trẻ trung, mắt lúng la lúng liếng thật dễ thương. 

Thích nhất hai bài Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao và Dư âm của Nguyễn Văn Tý, mình bắt mấy cô hát đi hát lại hoài. Anh Nhượng (Nguyễn Khắc Nhượng, nguyên TTK toà soạn báo Thanh Niên) ngồi cạnh mình, ghé tai mình nói, cụ Tý bây giờ sống khổ lắm. Nghe biết vậy chứ cũng chẳng hỏi gì thêm. 

Mình không quen Nguyễn Văn Tý, duy nhất một lần thấy cụ ở Đồng Hới, hình như năm 1970 thì phải. Lúc đó cụ đã hơn 45 tuổi rồi mà vẫn rất phong độ, đẹp trai cực, miệng rộng môi tươi, cười có lúm đồng tiền sâu hoắm. Hồi này cụ đã nổi tiếng lắm rồi, dân Quảng Bình quên ai thì quên chứ Hoàng Vân và Nguyễn Văn Tý thì không bao giờ quên. 

Khi cụ từ hội trường tỉnh uỷ đi ra, bao nhiêu cô nhìn cụ với những cái nhìn ngưỡng mộ thèm khát bốc cháy như muốn ăn tươi nuốt sống cụ. Bảo đảm chỉ cần cụ vẫy khẽ cái là có cả chục cô chạy theo liền. Cụ nổi tiếng đào hoa, nhạc sĩ chuyên trị phụ nữ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, những bài hát về phụ nữ của cụ đều hay. Tất nhiên vô thiên lủng phụ nữ say mê cụ, khỏi phải nói. 

Bài Dư âm là kết quả của cuộc tán gái bất thành của Nguyễn Văn Tý, hi hi. Năm 1950 khi cụ là đoàn trưởng đoàn văn công sư đoàn 304, cụ đến tán cô chị 21 tuổi nhưng cô em 16 tuổi lại mê luôn cụ. Cụ cũng chết mê chết mệt cô em, thả luôn cô chị. Gia đình tức lắm, cấm cung cô em, cấm cửa không cụ cho được đến nhà. Cái gì bí tất sẽ phát, bài Dư âm đã rời đời trong một đêm điên cuồng vì yêu của cụ. Chuyện này mình nghe qua radio trong taxi cách đây mấy năm rồi. 

Hôm nay sinh nhật mình, Đỗ Trung Quân mang đến cho chai rượu, anh ngồi thừ, nói, cụ Tý vừa gọi điện cho tôi, buồn quá. Mình hỏi sao, Quân nói, từ ngày bị tai biến liệt nửa người, cụ sống một mình khổ nghèo buồn tủi, tội lắm. Cụ gọi điện cho tôi, nói Quân ơi mai ba mươi tháng tư có chương trình văn nghệ nào vui cho mình đi xem với. Cụ có cả một Hội nhạc sĩ, một tấn bạn bè nhạc sĩ ca sĩ lại đi hỏi mình, nghĩ cái sự đời mà chán. 

Té ra Nguyễn Văn Tý ở rất gần chỗ mình, đi bộ chừng chục phút là đến nhà cụ. Mình gõ cửa, từ chỗ cụ nằm ra cửa không đầy bốn mét mà cụ phải đi chừng năm phút, đúng hơn cụ lết chứ không phải đi, toàn thân run lẩy bẩy, lúc nào cũng có cảm tưởng cụ sắp đổ xuống sàn. Duy nhất gương mặt đẹp lão vẫn còn tươi tỉnh còn tất cả đều tàn tạ, cả thân xác lẫn căn hộ ám khói nơi cụ sống. 

Cụ chẳng biết mình là ai, có lẽ cụ chẳng đọc một chữ nào của mình, nhắc tên Nguyễn Quang Lập hai ba lần cụ chỉ nhăn răng cười trừ, nhưng mà cụ vui, vui lắm. Cụ lập cà lập cập đòi pha trà uống nước, mình ngăn mãi không được. Cụ nhìn quanh quất chép miệng, nói, có lon bia mình uống mất rồi, không có mời Lập. Chỉ chừng ấy thôi mình biết cụ thèm khách đến nhường nào. 

Mình hỏi bạn bè có hay đến thăm anh không (giới văn nghệ ai lớn tuổi hơn mình đều gọi bằng anh, không chú bác gì hết), cụ cười nhẹ khẽ lắc đầu, nói chỉ còn một thằng thôi, thằng này tháng nào nó cũng đến thăm, cho hai trăm ngàn, tháng nào nó bận không đến thì tháng sau nó cho bù bốn trăm. 

Mình ngước lên bức tường thấy bức ảnh cụ chụp chung với nhạc sĩ đại ca được phóng to treo rất trang trọng. Mình biết nhạc sĩ đại ca là bạn chí thiết của cụ từ hồi chống Pháp, hơn nửa thế kỉ chia ly nay cả hai đã gặp nhau, sống cùng thành phố. Trong khi cụ đã tàn tạ, đếm ngày xuống lỗ thì nhạc sĩ đại ca vẫn rất hoành tráng, tiền nhiều như quân Nguyên. 

Mình chỉ tấm ảnh cười cười, nói, Đại ca không đến thăm anh à? Cụ cười hiền lành, nói, thằng đó thì tính làm gì. Thời kháng Pháp nó ốm nặng, nằm ở nhà mình cả tháng. Mẹ mình có đàn gà 12 con, lần lượt thịt từng con một nấu cháo cho nó ăn, ăn đến con thứ 12 nó ngước lên hỏi mẹ mình một câu lạnh tanh, nói, đây là con cuối cùng à? Thế thôi. 

Cụ kể, giọng nửa đùa nửa thật, (tới giờ mìn cũng chẳng biết thật hay không nữa), nói, tưởng đến chết nó cũng không thể quên chuyện đó, chẳng ngờ anh em gặp nhau, nhắc đến chuyện cũ nó không hề nhớ gì, ngơ ngác hỏi, gà nào nhỉ gà nào nhỉ? Đỗ Trung Quân ngồi cạnh, nói, chú có biết Đại ca viết hồi kí nhắc đến chú thế nào không? Cụ lắc đầu nói, không. Quân nói, Đại ca viết nguyên xi thế này nhé: “Tôi nhớ ngày đó trong văn công có một anh cán bộ tên là Tý, có làm nhạc..” Chú lừng danh với bài Dư âm trước cả khi gặp Đại ca, đúng không? Bạn bè thân thiết mà nói vậy là không có được. 

Cụ cười khì khì, nói, nó còn nhắc tên Tý là may lắm rồi. Rồi cụ ngước nhìn ra cửa sổ khẽ thở dài, nói, bạn bè mỗi đứa một nết, trách nhau thì trách cả ngày. Mình nhìn cụ thấy thương thương, chợt nhớ chuyện Quân kể năm ngoái chương trình âm nhạc của Đại ca được làm rất hoành tráng, vé bán hai triệu đồng một cặp, không được Đại ca cho vào danh sách khách mời nhưng cụ vẫn đến. Có người nói, người ta đã không mời, anh đến làm gì. Cụ nói, chương trình âm nhạc của bạn tôi tại sao tôi không đến! 

Cụ đứng rúm ró ở cửa nhà hát không biết làm sao có được cái vé, may gặp Đỗ Trung Quân, anh kéo cụ vào, nói, cháu cũng không có vé nhưng cháu xin vào được. Quân xin bảo vệ cho vào, bố trí cụ ngồi một ghế trống, nói, chú cứ ngồi đây, nếu có ai đến đòi ghế chú cứ dơ tay lên là cháu vọt tới liền. Cụ ngồi thắc thỏm không yên, hễ có ai tới gần là cụ nhỏm dậy lúng ta lúng túng. Trong khi Đại ca bận rộn bắt tay bắt chân quan khách thì cụ ngồi lo bị đuổi ra khỏi ghế. 

Một cặp vợ chồng trẻ đến, nói, chú ngồi lộn ghế tụi cháu rồi. Mặt cụ tái nhợt, nói, vâng vâng... rồi ngồi đực mặt không biết làm gì. Đỗ Trung Qúân vọt đến, nói, đây là nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, cụ không có vé. Cặp vợ chồng trẻ mắt trố miệng há, nói, vậy mời chú ngồi, vợ chồng cháu ra sau đứng cũng được, nước mắt cụ dàn dụa, nói, cảm ơn cảm ơn... may quá may quá… 

Quân nhắc lại chuyện này, nói, đó... chú thấy chưa, đời vẫn yêu chú lắm. Cụ mỉm cười lặng lẽ, cất giọng run run hát bài Ru người trăm năm, lời thơ của Trần Mạnh Hảo-"Ngủ đi người của anh ơi. Xin nhờ làn gió về nơi em nằm. Anh ngồi thức với xa xăm. Ðến em phải vượt hàng trăm tinh cầu… Cách xa như đất với trời. Ðêm đêm anh lặng ru người trăm năm. "

Đang hát cụ chợt dừng lại ngồi yên, nước mắt rân rấn. Mình hỏi, sao thế anh? Cụ lặng lẽ nhìn mình, nói tự nhiên nhớ bạn, bạn bè mình nhiều lắm. 

Sài Gòn Tháng 10-2012


Cây gậy Nguyễn Quang Lập

NGUYỄN TRỌNG

(Thương yêu tặng Lập)


Không có củ cà rốt, chỉ có cây gậy thôi
Anh đã chống lên bầu trời trang giấy
Những con chữ – dấu gậy
Rải máu dọc đời mình

Ngửa mặt đọc máu anh trên những mảnh trời đen trắng.

BÀI THƠ BỎ QUÊN

Vào khoảng những năm đầu của thập nhiên 80, tôi còn ở 68 Hàng Than. Lúc đó, thế hệ Khóa 20 của Đại học Bách khoa Hà Nội vừa mới ra trường. Có lẽ, cái đặc biệt nhất của lớp sinh viên Khóa 20 chúng tôi là hầu hết được gọi đi tập trung ở Mía, Làng cổ Đường Lâm. Sau 3 tháng, chúng tôi được phong quân hàm trung úy, thiếu úy rồi đi khắp đất nước, theo yêu cầu của Bộ Quốc Phòng.

Hết thời hạn phục vụ, tôi quay về Hà Nội. Vào thời gian này, có lần, NguyễnQuang Lập cùng với một người bạn đến nhà tôi chơi. Hồi còn ở Ký túc xá của Đại học Bách khoa, tôi có biết Nhóm thơ Vòm Cửa Xanh. Lập cũng sinh hoạt ở đó. Khi Lập đến nhà chơi, chúng tôi mới biết là cùng Khóa 20 của Đại học Bách khoa Hà Nội.

Trong không khí thân mật, biết tôi thích thơ, anh có rút bút chép tặng tôi một bài thơ của anh. Bài thơ chép trong cuốn sổ tay của tôi. Sau này, tôi đi huấn luyện sĩ quan dự bị ở Sóc Sơn. Nhà tôi bị mưa dột, số sách hỏng rất nhiều. Cuốn sổ có chép bài thơ của Nguyễn Quang Lập cũng bị mất. May thay, bài thơ của anh thì tôi đã thuộc lòng từ trước đó rất lâu.

VIRUS CHIẾN TRANH, SEX VÀ NHỮNG CÁI CHẾT ĐA CHIỀU


HOÀNG THỤY ANH

Những người lính nhiễm virus chiến tranh

Những người đi qua chiến tranh thực chất đều là những người đã “chết trong dòng chảy của lịch sử”. Thương tổn khủng khiếp trong chiến tranh không ngừng đeo đẳng, bám riết cuộc đời họ. Mỗi số phận mỗi bi kịch. Mỗi nhân vật mỗi nỗi đau. Văn của Nguyễn Quang Lập khai thác khá nhiều kiểu con người này. Ông xác tín hậu quả chiến tranh bằng cách gọi riêng: virus chiến tranh. Tiểu thuyết “Những mảnh đời đen trắng” là nền móng để “Tình cát” thực chứng những mặt nạ trá hình bất diệt của virus chiến tranh.

Trung thu Bọ Lập

Đêm nay bọ Lập đứng ở ban công nhìn ra sông Sài Gòn. Trăng ngàn và gió biển bao la khiến lòng bọ man mác nghĩ tới trung thu và nghĩ tới các em
Trăng đêm nay sáng soi xuống đất nuớc Việt Nam suýt độc lập yêu quý của các em. Trăng sáng mùa thu vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng mạc, núi rừng, nơi quê huơng thân thiết của các em…
Bọ Lập nhìn trăng và nghĩ tới ngày mai…
Ngày mai, các em có quyền mơ tưởng một cuộc sống tuơi đẹp vô cùng. Mươi mười lăm năm nữa thôi, các em sẽ thấy cũng dưới ánh trăng này, không còn những kẻ phá rừng làm thủy điện; Không còn những đập thủy điện được liều mạng xây cất nơi đứt gãy vỏ quả đất, nơi chứa đựng vô vàn những trận động đất, như thủy điện sông tranh 2. Cũng không còn những Vinalies, Vinashin và vô số Vina khác. Chúng đã biến mất tăm cùng với bè lũ tham nhũng tham lam và độc ác.

Kiến, chuột & ruồi của Nguyễn Quang Lập nhìn từ những ký hiệu


Nhà thơ, nhà phê bình Hoàng Thuỵ Anh

Kiến, chuột & ruồi bắt đầu từ đũng quần. Đũng quần vá chằng vá đụp là Đời. Vì hầu hết chúng ta đều sinh ra bên trong chỗ chắp vá ấy (tất nhiên, nói thì nói vẫn chừa những kẻ ra đời cách một gang). Đũng quần là nơi hứa hẹn những mầm sống, sinh sôi nảy nở. Nhưng nó cũng gợi mở những phận số nghèo khổ, cùng cực, tăm tối. Chọn góc nhìn Đời qua đũng quần, Nguyễn Quang Lập dựng lại thời kỳ cải cách ruộng đất đầy tăm tối, mông muội, bi thương. Trong truyện, Thị trấn Kô Long chính là một xã hội thu nhỏ, gói trọn những năm tháng đầy máu và nước mắt.

KIẾN, CHUỘT VÀ RUỒI Vừa đọc vừa ngẫm

Trần Tuấn
• ĐỜI
Một “nhân vật” kỳ thú có tên là Đời, chữ Đời viết hoa, ngay từ những trang đầu tiểu thuyết. Chất minh triết dân gian từ đây, xoay quanh “nhân vật” đặc biệt không – phải - là - người này, dụng ý tác giả là thế chăng?
Chuyện Tôi ra Đời từ bụng mẹ trong cơn đau đẻ vật vã nhìn qua cái háng của mụ đỡ đẻ để thấy cái chuồng bò là ngôi nhà ở đời chờ sẵn. "Từ trong khe hẹp, tôi mở mắt nhìn ra Đời, tức là cái chuồng bò. Không nhìn thấy gì ngoài cái háng bà đỡ đang dạng ra choán cả tầm nhìn. Lúc đầu thấy một vệt sáng chói đổ xuống, tôi nhầm đó là Đời. Không phải. Vệt sáng chui sau háng bà đỡ, bất kỳ cái gì chui sau háng mụ này đều không phải là Đời, tôi đinh ninh như vậy".
Một "cái háng mông muội" án ngữ cái nhìn đầu tiên vào Đời. Chẳng phải thứ “Chúng diệu chi môn” gì ghê gớm huyền mật theo thuyết Lão Tử, mà chỉ thô thiển và bẩn thỉu vậy đấy.
Cái nhìn đầu tiên của Tôi là thấy những con chuột nhắt đáng ghét và ghê tởm, "hình như chúng chui ra từ cái háng mông muội kia". Khiến "Tôi" co mình lại tụt sâu vào cái xà lim tăm tối của mình" (bụng mẹ). Một thứ phản kháng đầu tiên với Đời. Khiến mụ đỡ phải dùng đến cái bóc- xép cưỡng chế lôi ra, gọi là "chuyên chính sinh sản". Và cuối cùng khi Tôi chính thức chui ra đời, thì nơi "chôn nhau" của "Tôi" là cái bình rượu 4 lít của ba!
Thì ra Nguyễn Quang Lập không hẳn chủ tâm xây dựng nhân vật Đời với một “âm mưu” triết lý/minh triết gì (vốn ít là thuộc tính phổ quát trong văn Nguyễn Quang Lập). Có chăng là một thứ triết lý tối giản không màu mè, nhưng lại bất ngờ và hết sức đắc dụng.
Bởi tôi chợt phát hiện ra, rằng Nguyễn Quang Lập không chỉ viết văn, mà còn là một tay viết kịch bản sân khấu/điện ảnh cực “mả”. Đời, bà đỡ, cái háng, những vệt sáng, … - đó chính là những thứ đạo cụ, được tác giả bài trí, sắp đặt bởi thủ pháp sân khấu. Để tạo ra một không gian, một khí quyển đầy bất thường. Như ngôi làng cát, chiếc hầm cát của “Người đàn bà trong cồn cát” của Kobo Abe; như những cái giếng cạn quen thuộc của Murakami. Một ngôi làng Macondo của “Trăm năm cô đơn”, hay Cao Mật – Đại La, từ Marquez đến Mạc Ngôn...
Điểm tập trung, khiến mọi ánh sáng đèn pha chiếu vào, cho những chương hồi tiếp theo, đó là cái chuồng bò 14m2 giữa cái thị trấn Kô Long nhỏ bé miền Trung Việt Nam những năm đầu 1950 đầy biến động của thế kỷ trước…
• TÔI
Nguyễn Quang Lập khá tinh quái khi chọn nhân vật trần thuật “Tôi". Dù chưa đủ tuổi để trần thuật câu chuyện với tư cách tôi/người trong cuộc. Tác giả dùng một cái "tôi" đầy biến ảo. Với thủ pháp có phần huyền ảo, "tôi" là người quan sát siêu thực, từ mọi góc độ, kể cả khi chưa chào đời. Như khi "tôi" còn ở vị trí 105 buồng trứng bên phải. Rất lâu trước cái đêm được thụ thai "nhận chứng chỉ làm người".
Bởi Lập vốn mạnh nhất khi sử dụng chữ "tôi", trong mọi tác phẩm. Từ “Ký ức vụn”, “Bạn văn”,... tưởng như Lập có cả một kho chuyện về “tôi” ấy, muốn viết gì chỉ việc thò tay vào túi lấy ra. Có lẽ ông muốn “thật hóa” tối đa những câu chuyện mình sẽ kể?. Như lời đề từ đầu sách: "Những chuyện có thật và bịa đặt của tôi...". Cho dù nhiều tình huống được cho là “bịa đặt”, nhưng văn Nguyễn Quang Lập vẫn luôn đậm đặc cái “tôi”: tôi thấy, tôi biết, tôi nghe, tôi nói, …
Nên dẫn chuyện ở đây không hẳn kiểu như nhân vật tên Khẩn trong tiểu thuyết “Ngồi” của Nguyễn Bình Phương. Lập muốn làm một người kể chuyện thực sự, chứ không muốn gián cách.
• THỦ TRƯỞNG/ĐỒNG CHÍ
Lạnh người với Thủ trưởng, một nhân vật hai mặt đến kỳ lạ. Nhân vật Thủ trưởng đầy ám dụ - Thủ trưởng “kia” và Thủ trưởng “này”, cũng chỉ một con người ấy. Không biết đâu mà lần. "Cả hai đều có thật và không có thật".
"Chúng ta đang sống với một người rất tốt, nhưng phải hết sức cảnh giác với người này" - lời nhân vật bác Đông nói về Thủ trưởng. Khiến tôi nhớ tới một cựu Ủy viên Bộ chính trị mà tôi từng gặp, trong chuỗi thời gian làm báo đi giải oan cho những số phận ngặt nghèo. Tôi còn nhớ như in câu mà ông bật thốt ra: "Người cộng sản rất tốt. Nhưng nhiều người khi độc ác thì họ độc ác hơn ai hết!".
Chiếc xe biển số 2211 của Thủ trưởng như một thứ bóng ma, cùng lũ âm binh thoắt ẩn thoắt hiện. Cũng như Đội trưởng, thất thế sau “Sửa Sai” mà cũng vẫn như bóng ma đáng sợ, chập chờn đe dọa. Khiến một quan đầu tỉnh như Phạm Vũ phải liên tục tè ra quần. Cái bóng ma không chỉ của Cải Cách, mà trong tiểu thuyết này, đó còn là nỗi ám ảnh giữa những người vẫn gọi nhau là “đồng chí”.
Phạm Vũ làm quan đầu tỉnh mà vẫn nơm nớp cái chết rình rập trên đầu. Kể cả lúc 3 giờ sáng khi một nhóm người xông vào nhà "áp tải" lên tỉnh không kịp mặc áo quần. Cuối cùng vỡ lẽ đó chỉ là cách “bảo vệ đồng chí Chủ tịch tỉnh ra khỏi vùng nguy hiểm". Nhưng là cảnh báo thường trực nỗi bất an. Luôn phải cảnh giác, đề phòng, lên phương án… Nhớ lại, từ thời đi học cho đến khi là đồng đội trên chiến trường, chính Phạm Vũ đã bị Thủ trưởng giết hụt mấy lần!
"Lên tới chủ tịch tỉnh mới sợ một đêm đã kêu. Báo cho biết, từ nay ông phải sợ hãi suốt đời" - lời bác Đông - Phó ty công an.
Nhưng rồi cái chết đột ngột của Phó ty công an Lê Đông là minh chứng cho điều đó. Khi 3 giờ sáng ông bị đột quỵ, mà như lời thú nhận của bác sĩ trực cấp cứu là ông bị tai biến ở... sau gáy!
Sau cái chết của Lê Đông, Phạm Vũ đêm ngày thất thần, nơm nớp giật mình hoảng sợ mọi tiếng động. Ai gọi tên cũng giật mình, són ướt đũng quần.
Cuối cùng Thủ trưởng cũng chết vì bị "rắn cắn". Bởi tay của Lâm Thủ trưởng. Trên Thủ trưởng còn có Lâm Thủ trướng, chính là bà vợ hai của Thủ trưởng…
• KIẾN, CHUỘT VÀ RUỒI
Ba nhân vật đáng kể trong tiểu thuyết này, đó là kiến, chuột và ruồi. "Kiến bầu cho ba đó", những đứa con nói với Phạm Vũ sau khi ông được toàn thể một vạn hai dân thị trấn Kô Long bầu vào HĐND huyện. Rồi sau đó cũng đứng đầu phiếu bầu vào HĐND tỉnh. Kiến đen và kiến đỏ. Phận kiến bé mọn…
Trước đó, khi nhân vật Phạm Vũ bị Đội trưởng bắt nhốt vào “xà lim cải cách”, trong bóng tối, trên nền xi măng lạnh, ông lần tay theo đường rãnh kiến bò, đột nhiên nhận ra dòng chữ “Tôi bị oan” ai đó đã rạch sẵn. Đến khi có ánh sáng, ông nhìn thấy rất nhiều dòng chữ như vậy được viết trên tường. Của 26 người trước đó đã bị quy tội, bị nhốt tại đây và đã bị xử bắn.
Còn chuột? Chuột là chúng nó? Những bầy chuột gớm giếc bám đầy những vách tường nhà phía nam phía bắc. Chuột nhung nhúc đầy Hói Ma. Bên mấy trăm cái mặt cái đầu đang dập dềnh trên Hói Ma, mang gương mặt của Phạm Vũ.
Còn ruồi? Khi Phạm Vũ trở thành quan đầu tỉnh, cũng là lúc ruồi xuất hiện. Ruồi bua bám lấy ông. Chúng tấn công ông. Chúng bịt mắt ông. Một thứ "Ma ruồi". Mà chỉ Phạm Vũ mới thấy, mới bị vây khốn, mới hoảng sợ, còn người ngoài tịnh không thấy gì.
Có phải Nguyễn Quang Lập trong tiểu thuyết đề tên ba “nhân vật” này, thực sự muốn tách bạch thân phận chúng theo “luồng tuyến” như vậy?
Tôi nghĩ chắc là không. Bởi bi kịch nhân thế, bi kịch quan nghiệp, đâu dễ rạch ròi. Càng leo cao, Phạm Vũ càng bám chặt cái chuồng bò. Thân cô thế cô, ông "chỉ còn có cái chuồng bò hôi hám đầy kiến, chuột và ruồi làm bệ phóng". Ông cố leo cao, bởi sợ bọn âm binh hại mình, như sau lần chết hụt.
Nhưng dân dân, thì luôn rạch ròi, công tâm. Cho dù có lúc tác giả cay đắng thốt lên "Không biết không nghe không thấy" trở thành "phép phòng thân truyền kiếp", để "đất nước luôn sản sinh những thiên tài hai mặt". “Hai mặt” ấy của những người dân làng Hống, đó là dùbề ngoài ầm ào truy sát “tên phản động” Phạm Vũ, vẫn âm thầm bí mật giúp đỡ ông. Gói khoai, cái bật lửa vứt xuống cái giếng ông đang ẩn nấp ...
Đó chính là lòng dân mà Phạm Vũ hơn hai chục năm theo cách mạng, lần đầu tiên mới hiểu được.
• NGOA
Với “Kiến, chuột và ruồi’, thủ pháp ngoa dụ, phóng đại có thể nói chưa bao giờ đậm đặc như vậy, so với hàng loạt tác phẩm trước đó của Nguyền Quang Lập. Kể cả trong văn xuôi hiện đại Việt Nam.
Có thể bắt gặp điều đó trong những chương về cuộc diễu hành, về Đội trưởng điếu cày, và bất cứ trang nào.... Chất ngoa dụ, ngoa ngôn, ngoa ngữ ngày càng đậm đặc ở Lập, nhất là khi ông trải qua một hành trình khá dài với "Ký ức vụn". Điều cốn càng ít thấy trong "Những mảnh đời đen trắng", đặc biệt là trong truyện ngắn.
Không biết đã có ai làm chưa, nhưng tôi nghĩ riêng về chất ngoa dụ trong văn Nguyễn Quang Lập có thể làm những đề tài nghiên cứu, luận án nghiêm túc và hấp dẫn.
Tôi cho rằng nó khác với sự giễu nhại của lối viết hiện đại. So sánh thế nào giữa chất hiện thực huyền ảo của Marquez, với hiện thực ngoa dụ, phóng đại kiểu này?
Ngoa, nhiều chỗ thú vị, và độc. "Đồng chí (đội trưởng) đặt trang trọng tờ báo tỉnh đăng "Mô hình ba giai đoạn điếu cày" lên bụng chị Hiên, mắt không rời khởi tờ báo, ngọc hành không rời khỏi bánh ú, đánh nhịp cùng chị hơn một giờ không nghỉ".
Nhưng một tác phẩm khi nhà văn “ngoa” một cách thái quá, điều gì sẽ xảy ra? Người đọc dễ cười phá lên nhưng ít "tin" hơn? Chất hiện thực bị pha loãng, chất "mua vui" nhiều hơn chăng?
Bạn đọc cần tỉnh đòn không, để cần nhận ra/đối sánh với những gì trên thực tế? Như cảnh họp xét xử, tuyên án của Đội trưởng điếu cày, …
o Trần Tuấn 
__________
ps/ Những dòng note nhanh trên điện thoại khi đọc “Kiến chuột và ruồi” của Nguyễn Quang Lập. Chưa theo một chỉnh thể nào. Còn nhiều điều để nói về tiểu thuyết này.