Hiển thị các bài đăng có nhãn Viết về tôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Viết về tôi. Hiển thị tất cả bài đăng

NGUYỄN QUANG LẬP CUỘC ĐỜI TỪ OANH - LIỆT đến AN.

QUỐC THƯỜNG



LTS - Thật may mắn khi về Củ Chi thăm má Mười và Mái ấm Thiện Duyên, tôi được anh Thư nguyên Cục phó Cục Tần số bộ 4T là bạn học ĐHBK Hà Nội cùng nhà văn Nguyễn Quang Lập, đến nhà Bọ Lập chơi, qua tâm sự mới vỡ lẽ thêm nhiều điều.
Năm ngoái nhà văn Phạm Phú Thép quê Ba Đồn cùng nhà hoạt động xã hội nổi tiếng Nguyễn Cảnh Bình có về nhà tôi chơi. Hai anh tặng sách trong đó có cuốn Ba Đồn mạn thuật của Bọ Lập gửi ra. Nhận sách của Nguyễn Quang Lập tôi lại nhớ ánh mắt hiền từ, lời nói nhỏ nhẹ, khoan thai của Bọ.
Hôm nay mới suy nghĩ và viết đôi dòng chúc nhà văn Nguyễn Quang Lập sống bình an bên người vợ đảm và đàn chim yến của mình.
Người đọc văn học Việt Nam đương đại khó có thể tìm thấy một trường hợp nào nhiều thăng trầm như nhà văn Nguyễn Quang Lập. Cuộc đời ông dường như đi qua ba trạng thái rõ rệt: Oanh -Liệt An.
“Oanh” là thời kỳ nổi danh. “Liệt” là những năm tháng thân thể suy kiệt và sự nghiệp gặp nhiều biến động. Còn “An” là giai đoạn trở về với đời sống bình dị, lặng lẽ giữa thiên nhiên, như một sự hòa giải với chính mình.
Nguyễn Quang Lập sinh năm 1956 tại Quảng Bình, từng học kỹ thuật vô tuyến điện nhưng lại chọn văn chương làm nghiệp chính. Những năm trong quân ngũ rồi sau đó làm báo, viết văn, viết kịch bản điện ảnh đã tạo cho ông vốn sống phong phú và một giọng văn rất riêng.
Từ cuối thập niên 1980, ông đã được biết đến qua tiểu thuyết, truyện ngắn, sân khấu và điện ảnh. Tuy nhiên, phải đến khi xuất hiện blog Quê Choa với bút danh “Bọ Lập”, tên tuổi Nguyễn Quang Lập mới thực sự trở thành một hiện tượng xã hội. Blog này thu hút lượng độc giả rất lớn nhờ lối viết khẩu ngữ tự nhiên, hóm hỉnh, sắc sảo và giàu tính phản biện.
Nhiều bài viết trên Quê Choa sau đó được tuyển chọn thành tập Ký ức vụn, một trong những cuốn tản văn được bạn đọc yêu thích nhất những năm đầu thế kỷ XXI.
Đó là thời kỳ “oanh” của Bọ Lập. Oanh không chỉ vì nổi tiếng mà còn vì sức viết dồi dào. Nguyễn Quang Lập xuất hiện đồng thời ở nhiều lĩnh vực: văn học, sân khấu, điện ảnh, báo chí và mạng xã hội.
Giọng văn của ông mang đậm chất dân gian Quảng Bình, tưng tửng mà sâu cay, hài hước mà nhiều suy tư. Không ít người xem ông là người đã đưa “khẩu văn” trở thành một phong cách văn xuôi đặc sắc.
Nhưng đời người thường không chỉ có hào quang. Bước sang tuổi trung niên, Nguyễn Quang Lập phải đối mặt với nhiều thử thách.
Trước hết là bệnh tật. Căn bệnh khiến chân tay yếu dần, việc đi lại trở nên khó khăn. Có thời gian ông gần như phải gắn bó với xe lăn, sinh hoạt hết sức bất tiện.
Chao ôi! Từ một người từng xông xáo, hoạt bát, ông phải học cách sống chung với sự hạn chế của thân thể.
Đó là cái “liệt” theo nghĩa đen. Song còn một cái “liệt” khác, nặng nề hơn. Những phát ngôn, bài viết và hoạt động xã hội của ông từng gây nhiều tranh luận. Năm 2014, ông bị bắt giữ liên quan đến hoạt động trên blog cá nhân, trở thành một trong những trường hợp gây chú ý lớn trong đời sống văn học và truyền thông Việt Nam thời kỳ đó.
Từ vị trí một nhà văn được đông đảo công chúng yêu mến, Nguyễn Quang Lập bước vào giai đoạn nhiều sóng gió. Người khen có, người chê có. Người xem ông là tiếng nói phản biện xã hội, người khác lại cho rằng ông đã đi quá xa khỏi địa hạt văn chương. Danh tiếng vì thế không còn thuần túy là hào quang mà trở thành một gánh nặng.
Nếu nhìn dưới góc độ Phật học, đây là giai đoạn con người nếm trải đầy đủ tính chất vô thường. Danh vọng không bền. Sức khỏe không bền. Những lời tung hô hôm nay có thể trở thành những lời chỉ trích ngày mai. Cái “ngã” từng được nuôi dưỡng bởi sự nổi tiếng buộc phải đối diện với thực tế nghiệt ngã của đời sống.
Điều đáng chú ý là sau những biến động ấy, Nguyễn Quang Lập dần thu mình khỏi các tranh luận gay gắt. Ông ít xuất hiện hơn trên các diễn đàn xã hội. Việc viết lách cũng trở nên điềm tĩnh hơn.
Như tôi biết hiện nay ông chọn cuộc sống tương đối lặng lẽ ở khu vực Củ Chi, chăm sóc gia đình, cây cối và nghề nuôi chim yến.
Từ một người từng là tâm điểm của vô số cuộc tranh luận trên mạng xã hội, ông trở về với nhịp sống bình thường của một người cao tuổi.
Đó chính là chữ “An” ông có được ở tuổi chiều tà.
Cái an này không phải là sự thất bại hay buông xuôi. Trái lại, đó có thể là kết quả của một hành trình dài sau khi đã đi qua đủ vinh nhục.
Ngày trẻ, người ta thường muốn nổi tiếng. Khi nổi tiếng rồi lại muốn được hiểu. Khi trải qua sóng gió mới hiểu rằng điều quý giá nhất không phải là nổi tiếng hay được hiểu, mà là được sống tỉnh tâm, bình yên.
Nhìn lại cuộc đời Nguyễn Quang Lập, có thể thấy một đường cong khá đặc biệt. Từ người lính thành nhà văn. Từ nhà văn thành hiện tượng mạng xã hội. Từ hiện tượng xã hội trở thành nhân vật gây tranh luận. Rồi cuối cùng trở về với đời sống dân dã giữa cây trái và tiếng ríu rít của đàn chim yến về tổ.
Anh vừa nhắn tin cho tôi "cuối đời anh chỉ có chữ ĐỊNH em ạ, giờ tập trung vào Chữ Định trong "Giới - Định - Tuệ" mà thôi. Đây là trạng thái tâm trí tập trung cao độ, an tịnh và hoàn toàn tỉnh thức, không bị xao động hay chi phối bởi hoàn cảnh bên ngoài
Oanh rồi Liệt. Liệt rồi An, đó không chỉ là câu chuyện riêng của Nguyễn Quang Lập mà còn là một minh họa sinh động cho quy luật vô thường của đời người. Hào quang rồi cũng nhạt. Tranh cãi rồi cũng qua. Chỉ còn lại con người đối diện với chính mình.
Có lẽ ở tuổi bảy mươi, điều đáng quý nhất đối với một người cầm bút không phải là những tràng pháo tay của đám đông, mà là khả năng ngồi yên dưới bóng cây, nghe tiếng chim gọi bạn giữa chiều Củ Chi, và mỉm cười với tất cả những gì mình đã đi qua./.
*Thiện An - Trần Quốc Thường, Hội Di sản văn hóa Việt Nam, hội VHNT Hà Tĩnh.

Một dấu phẩy không chịu đứng yên

NGUYỄN QUỐC CHÍNH



Rất nhiều người viết cả đời để làm dấu chấm: kết luận, tổng kết, đóng khung. Có những người viết để làm dấu chấm than: gây chú ý, gây sốc, gây tiếng vang. Bọ không chọn hai con đường ấy. Bọ chọn làm dấu phẩy - một dấu phẩy đặt không đúng chỗ, giữa đời và văn.
Nguyễn Quang Lập viết từ một vị trí rất khó. Văn chương của Bọ không sinh ra từ bàn viết kín đáo, mà từ đời sống còn nóng: những chuyện nghe lỏm, những mùi khó chịu, những điều ai cũng thấy nhưng ngại gọi tên. Bọ không đứng hẳn trong văn chương để làm mỹ học, cũng không đứng hẳn ngoài đời để làm phóng viên sự kiện.
Bọ lơ lửng.
Và chính cái lơ lửng ấy khiến chữ của Bọ khó chịu với nhiều người - khó chịu vì nó không cho ai yên tâm.
Văn của Bọ không “hay” theo nghĩa trang trọng. Nếu đo bằng trau chuốt, sang trọng, cân đối, thì văn ấy không đạt chuẩn. Nhưng nếu đo bằng độ trúng, độ gọn, và khả năng làm người đọc ngượng, thì Bọ rất hiếm. Bọ không cố làm câu chữ đẹp; Bọ làm cho thói quen xấu hiện hình. Khi thói quen xấu đã hiện hình, nó xấu sẵn rồi, không cần trang điểm thêm.
Châm biếm của Bọ không nhằm hạ người khác. Nó không dùng để chứng tỏ mình thông minh, càng không để leo lên vị trí đạo đức cao hơn ai. Bọ châm biếm bằng tự trào, chấp nhận mình cũng nằm trong cái ao ấy.
Khi Bọ viết: “Tôi như dấu phẩy đặt sai chỗ / Giữa đời và văn”, đó không phải là than thân, mà là tuyên ngôn vị trí.
Một người không nhận mình là trung tâm, chỉ nhận mình là kẻ làm câu văn bị khựng lại.
Văn chương của Bọ là văn chương làm ngắt nhịp. Xã hội rất sợ những thứ làm ngắt nhịp: câu hỏi không đúng lúc, sự im lặng không theo kịch bản, một dấu phẩy chen vào nơi đáng lẽ phải liền mạch. Chữ của Bọ làm đúng việc đó. Nó không lật bàn, không đập vỡ; chỉ khiến dòng chảy phải dừng một nhịp rất ngắn. Nhưng đôi khi, chỉ cần một nhịp dừng, người ta mới kịp nhận ra mình đang trôi đi đâu.
Vì sao văn của Bọ không bao giờ “thuộc hệ thống”? Vì hệ thống cần câu tròn, nghĩa rõ, vai trò xác định. Trong khi dấu phẩy của Bọ không kết luận, không tuyên thệ, không xin đứng đúng hàng. Bọ không viết để được trao thưởng, cũng không viết để chống đối bằng khẩu hiệu. Bọ viết để làm lộ ra những mảng mà hệ thống không muốn soi kỹ. Thế nên Bọ luôn… lệch. Nhưng lệch không phải lúc nào cũng sai; nhiều khi, lệch chỉ là chưa chịu cúi đầu cho thẳng hàng.

Gã Khờ nói thật một câu: văn chương của Bọ không cứu rỗi ai, cũng không dẫn đường. Nó chỉ làm một việc khiêm tốn hơn nhiều - nhắc người ta rằng câu văn xã hội này chưa xong đâu. Và đôi khi, một dấu phẩy đặt sai chỗ lại là thứ giữ cho câu ấy chưa khép lại trong dối trá.

ĐÒ ƠI!

Tuỳ bút phê bình của Nguyễn Thanh Sơn.



Không có tội lỗi nào mất đi, nó chỉ đổi hình, chảy ngược về phía thời gian, để mỗi lần con người cất tiếng, ký ức lại khẽ dội về, như một lớp sóng ngầm không chịu yên. Nguyễn Quang Lập viết Đò ơi trong chính khoảnh khắc ấy-khi chiến tranh đã trôi mà hòa bình chưa kịp tới, khi lời nói không còn đủ hơi sức để ca ngợi mà tâm hồn cũng chưa đủ độ lùi để sám hối. Ông viết như một người đang học lại cách thở sau chiến tranh-chậm, nặng, sâu-như thể chỉ còn biết lắng nghe tiếng của chính mình trong những gì còn sót lại.

Trong văn xuôi hậu chiến Việt Nam, mỗi người viết đều tìm một cách nói khác cho cùng một im lặng. Nguyễn Minh Châu mở con đường tự vấn của lý trí, Dương Hướng trả lại ký ức cho cộng đồng, Nguyễn Khắc Trường giải phẫu sự mục ruỗng của làng xã, còn Nguyễn Quang Lập thu hết di chứng chiến tranh vào trong thân thể của một con người mang tội lỗi. Ở ông, chiến tranh không phải là ký ức chung, mà là vết thương riêng, và Đò ơi là bản độc thoại của một linh hồn chưa qua sông, nơi mọi tiếng nói đều là tiếng vọng.

Truyện ấy, nhìn bề ngoài, giản dị đến khắc khổ: một người từng là anh hùng, nay sống lặng bên sông, mang theo tội lỗi không ai biết. Nhưng trong cấu trúc, nó được tổ chức như một bản tấu nhiều bè, xoay quanh bốn tầng tiếng gọi- những tầng âm mà lương tâm phát ra trong bóng tối của mình.

Tiếng gọi đầu tiên là tiếng gọi của ký ức ngoài con người. “Một vài con bìm bịp đã cất tiếng gọi bạn, đó là âm thanh duy nhất trường tồn trên bến sông này.” Nguyễn Quang Lập không mở truyện bằng hành động, mà bằng tiếng vọng. Tiếng bìm bịp, tiếng nước, ánh hoàng hôn, tất cả không phải để tả cảnh mà để tái hiện ký ức đang gọi về qua lớp thiên nhiên. Ở đây, chính tự nhiên cũng trở thành ký ức, một ký ức vượt khỏi cá nhân, một kiểu ký ức ngoại thân -nơi trời đất nhớ giùm con người điều họ không dám nhớ. Mỗi tiếng bìm bịp, mỗi gợn sóng, là một cú chạm của quá khứ vào hiện tại, một nhịp ngân cho bản trường ca tội lỗi mà nhân vật đã tự viết lên thân mình.

Tiếng gọi thứ hai là tiếng gọi của thân thể, nơi khát khao bật ra thành âm. Người lái đò say rượu, cất tiếng hát “Ai (ờ) đưa con sáo qua sông…”, “Hò ơi… ví dầu cha mẹ em có đánh chín chục, một trăm roi…”. Những câu hò cũ trôi lên giữa đêm, tưởng chỉ là dân ca, nhưng thực ra là tiếng của xác thịt muốn được sống lại. Chiến tranh đã tập cho con người nín thở, giữ mình trong kỷ luật, không được yêu, không được run, không được yếu. Nhưng ngay cả khi cơ thể không biết cách thở nữa, nó vẫn bật tiếng kêu của bản năng-vừa là khát sống, vừa là khát cơ thể. Trong cơn bão ấy, một phút lầm lỗi xảy ra. Nguyễn Quang Lập không kể lại, ông chỉ để âm thanh làm chứng; vì trong mọi tội lỗi, bao giờ cũng có phần tiếng nói bị chặn lâu ngày của thân thể.

Tiếng gọi thứ ba là lời lương tâm vỡ ra từ xấu hổ. “Ngu.” “Đồ chó.” Hai tiếng ngắn ngủi mà nặng như nhát búa của người đàn bà vang lên qua nhiều năm, dội lại trong lều rách, trong giấc ngủ, trong hơi thở. Không ai còn kết án ông nữa, xã hội đã quên, thời gian đã tha, chỉ có chính ông vẫn tiếp tục nghe. Nguyễn Quang Lập ở đây không viết đạo đức luận; ông viết âm thanh của sám hối. Bởi mọi đạo đức đích thực không nằm ở lời hứa, mà ở việc con người còn biết đỏ mặt trước ký ức của mình. Tiếng chửi ấy chính là nhịp tim của sự lương thiện.

Và cuối cùng, tiếng gọi thứ tư-ảo thanh của chuộc lỗi, tiếng gọi “Đò ơi… đò!” giữa đêm mù sương. Không ai gọi, nhưng ông nghe thấy. Người lái đò vùng dậy, chèo đi trong sương, lao vào bóng tối như người nghe được lệnh của ký ức. Con thuyền ấy không chở ai, chỉ chở một linh hồn đi tìm lại phiên tòa của mình. Tiếng gọi “đò ơi” là âm vang cuối cùng của ý thức, tiếng ngân mà bên kia không ai đáp lại. Nguyễn Quang Lập dừng truyện ở đó-nơi cánh cửa vẫn đóng, nơi không có sự cứu rỗi. Ông hiểu rằng mọi kết thúc đều là một hình thức tha thứ, và tha thứ, đôi khi, lại là cách giết chết chân lý. Vì thế, ông giữ im lặng, để im lặng làm công việc của phán xét.

Từ những tầng âm ấy, Đò ơi mở ra một cấu trúc của thời gian biết tự ngân. Quá khứ không nằm sau lưng, mà vẫn còn đang nhắc liên tục-nói bằng tiếng của nước, của bìm bịp, của thân thể, của những khao khát bị bỏ quên trong chiến tranh. Mỗi âm thanh đều là một cách ký ức tự tìm đường về, và vì thế, quá khứ trong truyện không trôi qua mà lặp lại, như con sông không chịu chảy, chỉ giữ lại bóng người soi mình trong nước. Trong khi đó, hiện tại được đánh dấu bằng một tiếng duy nhất – “Đò ơi…”-tiếng gọi mỗi đêm vẫn vang, nhỏ thôi nhưng bền, như một linh hồn chưa yên. Ở khoảnh khắc ấy, hiện tại không còn là một thời gian đang diễn ra, mà là một thời gian tự nghe lại mình. Còn tương lai-phần đời chưa tới-là một cõi câm lặng: sau bao nhiêu tiếng gọi, thế giới chỉ còn im, như thể mọi khả năng cứu rỗi đều đã được tiêu hết vào tiếng vọng cuối cùng.

Trong dòng chảy ấy, Đò ơi hiện ra như một tấm gương kép, nơi hai bi kịch-bi kịch của thời đại và bi kịch của con người-chồng lên nhau và soi lẫn vào nhau. Bi kịch thời đại là chiến tranh, một cơn cuồng tín tập thể đã biến anh hùng thành tàn dư, biến ký ức chung thành gánh nặng riêng. Nó không chỉ tàn phá thân thể, mà còn tổn thương tâm hồn, khiến mỗi kẻ sống sót đều mang trong mình một phần tro nguội của quá khứ. Bi kịch con người có khi chỉ là khát khao bị kìm nén quá lâu, một phút trượt khỏi bản năng rồi phải sống mãi trong mặc cảm. Nhưng người lái đò mắc kẹt giữa hai dòng nước ấy của quá khứ và tương lai, không biết bờ nào là thật; chiến tranh đã dạy ông cách chết, nhưng không dạy ông cách sống lại. Nguyễn Quang Lập, với sự điềm tĩnh của người đã đi qua mọi tiếng ồn của thời cuộc, chỉ đặt ông vào khung cảnh đó -không kết án, không bênh vực-để ông tự nghe, tự chịu, và dần hóa thạch trong im lặng dằn vặt của chính mình.

Và cuối cùng, khi truyện khép lại, tiếng gọi “đò ơi” vẫn còn đó, nhỏ thôi, nhưng dai dẳng, như tiếng thở của một linh hồn chưa được siêu thoát. Không biết đó là tiếng của người đàn ông, của người đàn bà, của con sông, hay của chính người đọc-chỉ biết rằng nó vẫn tiếp tục ngân, qua mọi bờ, qua cả văn bản, như một lời nhắc âm thầm rằng: điều còn sống lâu nhất trên đời này không phải là ký ức, mà là tiếng gọi của ký ức-thứ không ai dập tắt được, cũng không phải ai cũng đủ can đảm để trả lời.

Nhà văn “làng ta” kể chuyện “làng ta”

MAI NAM THẮNG



Trong nghĩa trang Liệt sĩ của thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, ngôi mộ đầu tiên tính từ trên xuống là Liệt sĩ Nguyễn Tiến Nhẫn, sinh năm 1929, hi sinh ngày 16-8-1948. Anh là một chiến sĩ điệp báo mưu trí và gan dạ, tham gia Việt Minh từ thủa thiếu niên, bị địch bắt và hành quyết lúc mới 19 tuổi, được các thế hệ nhân dân quê nhà tôn vinh như một người anh hùng.

Nguyễn Tiến Nhẫn là con trai của ông Nguyễn Dư, tục gọi là ông Bộ Dư vì ông là người lo việc lễ lạt, tiệc dùng, đình đám của làng Phan Long, một ngôi làng cổ ở miền hạ bạn phía Bắc sông Gianh, được hình thành cách nay hơn 3 thế kỷ, sau cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn (1627-1775). Là trưởng nam của một gia đình “có chữ”, từ bé Nguyễn Tiến Nhẫn đã được học hành chu đáo, rất thạo tiếng Pháp. Đó là một lợi thế trong hoạt động cách mạng của Nguyễn Tiến Nhẫn, từ khi còn là một chú thiếu niên làm liên lạc cho tổ chức Việt Minh ở Ba Đồn thời kỳ tiền khởi nghĩa; cũng như sau này kháng chiến toàn quốc bùng nổ, làm điệp báo của ngành Công an tỉnh Quảng Bình. Đặc biệt, nhờ thông minh và tài trí, Nguyễn Tiến Nhẫn đã thực hiện thành công kế “Vệ quân nhập địch”, lọt vào hàng ngũ quân thù để khai thác những tin tức quan trọng, giúp quân ta chủ động đối phó với những trận càn lớn ở chiến khu Trung Thuần và làng kháng chiến Cảnh Dương. Khi bị địch bắt, dụ dỗ mua chuộc và tra tấn cực hình, Nguyễn Tiến Nhẫn vẫn không nao núng, kiên cường giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Địch đưa anh về hành quyết tại đình chợ Ba Đồn để khủng bố tinh thần nhân dân, nhưng tấm gương lẫm liệt của anh đã tiếp thêm sức mạnh cho phong trào kháng chiến cứu nước của quê hương…

Hơn 75 năm sau ngày chiến sĩ tình báo Nguyễn Tiến Nhẫn hi sinh, một người con của làng Phan Long là nhà văn Nguyễn Quang Lập đã tái hiện câu chuyện bi tráng trên đây qua tiểu thuyết Làng ta có một anh hùng, do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành quý 1-2025. Gần chục năm sau ngày anh Nhẫn hi sinh, Nguyễn Quang Lập mới ra đời. Trải qua những trận càn của thực dân Pháp, những năm tháng chiến tranh phá hoại của máy bay và tàu chiến Mỹ, những trận lũ lụt thường niên đôi bờ sông Gianh, những lần thay đổi đơn vị hành chính và cơ quan nghiệp vụ… nên những tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Tiến Nhẫn hầu như không còn. Đó là khó khăn lớn nhất đối với một nhà văn viết về đề tài lịch sử. Tuy nhiên, may mắn là từ nhiều năm trước đây, khi một số nhân chứng là bạn bè, đồng đội, chỉ huy của Nguyễn Tiến Nhẫn còn tại thế, Nguyễn Quang Lập đã gặp và tìm hiểu được nhiều tư liệu quý giá về nhân vật của mình. Đó là các ông: Cổ Kim Thành (hoạt động trong phong trào công nhân Ba Đồn trước năm 1945, sau là Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban hành chính Quảng Bình); Đồng Sỹ Nguyên (cán bộ Việt Minh ở Ba Đồn-Quảng Trạch, sau này là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam); Lại Văn Ly (cán bộ chiến khu Trung Thuần, sau này là Phó chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Bình)… và nhiều cán bộ tiền khởi nghĩa ở vùng Ba Đồn-Quảng Trạch trước đây, như các ông, bà: Phan Văn Trinh, Hồ Danh, Hoàng Cần, Nguyễn phi Phổ, Nguyễn Thị Lợi, Nguyễn Hữu Mường v.v… Cùng đó là ký ức của dân làng và những câu chuyện truyền khẩu về Liệt sĩ Nguyễn Tiến Nhẫn; đặc biệt là ký ức của thân phụ nhà văn, là một nhà giáo mẫn tiệp…

Dựa trên những tư liệu khả tín trên đây, bằng tài năng của một nhà văn đã thành danh, Nguyễn Quang Lập đã tái dựng câu chuyện Làng ta có một anh hùng bằng sự pha trộn các yếu tố phi hư cấu với trí tưởng tượng (hư cấu) của nhà văn. Bằng cách ấy, nhà văn đã dẫn dắt người đọc trở về làng Phan Long của thị trấn Ba Đồn cách nay trên dưới tám chục năm, “chứng kiến” quá trình hoạt động và trưởng thành của một người anh hùng nhỏ tuổi ở “làng ta”. Cách “pha trộn” này vừa đảm bảo tính chân thực của các sự kiện và nhân vật lịch sử, tạo cảm giác tin cậy cho bạn đọc; vừa là cách khắc phục những “khoảng trống” và “điểm mờ” của lịch sử do tác động của thời gian và các yếu tố khác. Điều quan trọng hơn là người đọc được tiếp nhận những giá trị lịch sử-văn hóa thông qua một tác phẩm văn học, chứ không phải một tài liệu lịch sử thuần túy.

Cùng với nghệ thuật “pha trộn”- Phi hư cấu lai (Hybrid nonfiction), câu chuyện Làng ta có một anh hùng còn được Nguyễn Quang Lập kể bằng thủ pháp đồng hiện, vốn đã được tác giả sử dụng khá thành công trong nhiều tác phẩm văn học, sân khấu và điện ảnh nổi tiếng của mình. “Đồng hiện” là cùng lúc thể hiện những nhân vật, sự kiện của quá khứ, hiện tại và tương lai; để chuyển tải một thông tin tổng quan, một cái nhìn bao quát; để người tiếp nhận vừa trực quan cụ thể, vừa liên tưởng kết nối, hình dung đầy đủ hơn về những nhân vật và sự kiện được nêu. Tiểu thuyết Làng ta có một anh hùng có 2 nhân vật chính là Nguyễn Tiến Nhẫn và Mai Thị Lê. Trong đó, Mai Thị Lê vừa là nhân chứng lịch sử (cô bạn nhỏ thời thơ ấu và người yêu tuổi thiếu niên của Nguyễn Tiến Nhẫn), vừa là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất (xưng “em”). Trong mỗi “chương” (mục) của tác phẩm, mở đầu là cuộc trò chuyện của tác giả Nguyễn Quang Lập với nhân chứng lịch sử Mai Thị Lê, 91 tuổi, ở thời hiện tại, khi nhà văn viết tập truyện này. Tiếp đó là phần độc thoại-tâm tình của cô bé Mai Thị Lê cách nay trên dưới tám chục năm, với nhân vật Nguyễn Tiến Nhẫn; thực chất đó là câu chuyện kể về người anh hùng theo trình tự thời gian đã thuộc về quá khứ. Theo đó, phần trò chuyện giữa cụ bà Mai Thị Lê với nhà văn Nguyễn Quang Lập có tác dụng như những lời “phi lộ” hay những dòng “lạc khoản” để người đọc hình dung rõ hơn, tiếp nhận đầy đủ hơn những thông tin của cô bé Mai Thị Lê trong phần độc thoại-tâm tình tiếp theo. Ngoài hiệu quả nghệ thuật trên đây, phương pháp đồng hiện này còn giúp cho câu chuyện sinh động, linh hoạt hơn; đặc biệt tạo cảm giác tin cậy hơn khi nhiều chi tiết/sự kiện của quá khứ có sự chứng kiến hoặc can dự của những nhân vật nổi tiếng trong làng, như: Người rải truyền đơn năm 1933 ở chợ phiên Ba Đồn là ông Hoàng Lai, 1 trong 3 đảng viên của Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Phan Long-Ba Đồn; chú cu Chích thường đến gặp Nguyễn Tiến Nhẫn vào ban đêm, sau này là Đại tá Công an Nguyễn Văn Chích; chú Trợ Tỷ phụ trách Hướng Đạo sinh ở Ba Đồn, sau này là nhà giáo Nguyễn Văn Tỷ, Phó Hiệu trưởng-Bí thư Đảng ủy Đại học Sư phạm 1 Hà Nội; ông Quản Đại là cán bộ Việt Minh cài vào hàng ngũ địch, làm đến đồn trưởng khố xanh, sau này là Trung tá Quân đội Nguyễn Thái Đại, nhạc phụ của Giáo sư địa chất Nguyễn Quang Mỹ, anh ruột của nhà văn Nguyễn Quang Lập v.v…

Làng ta có một anh hùng là tiểu thuyết lịch sử hiện đại. Tác phẩm tái hiện khá sinh động phong trào đấu tranh cách mạng ở một làng quê cụ thể, trong phong trào cách mạng chung của cả nước, giai đoạn tiền khởi nghĩa tháng 8-1945 và những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thông qua việc khắc họa hình tượng một thiếu niên yêu nước, một chiến sĩ điệp báo trẻ tuổi. Đồng thời, tác phẩm cũng đầy ắp những kiến thức lịch sử, văn hóa, địa lý… và điều kiện kinh tế-xã hội của một vùng đất từng là trung tâm thương mại nổi tiếng lâu đời ở miền Trung. Có lẽ, ký ức tuổi thơ và tình yêu quê hương là động lực chính thôi thúc tác giả viết tiểu thuyết này và đây cũng là yếu tố chính làm nên sự thành công của tác phẩm. Những ân tình xóm Cây Bàng, xóm Cau, xóm Gát, phố Chợ…; Những địa danh thân thương cầu Phôốc, cầu Kịa, sông Gianh, núi Chóp Chài…; Những mùa rạm bè, những phiên chợ bò… cùng những đặc sản ẩm thực như: bánh tráng, bánh canh… khiến những độc giả chưa từng biết đến Ba Đồn, cũng thổn thức chia sẻ. Và đặc biệt, làng Phan Long-thị trấn Ba Đồn của tác giả còn là một cái nôi của phong trào cách mạng tỉnh Quảng Bình. Nhà văn không giấu nổi niềm tự hào khi kể: “Hòa bình lập lại năm 1954 mới biết, hóa ra chín phần mười dân làng Phan Long theo Việt Minh. Hóa ra quán Phở Tới, Nhậu Đê của ông Bếp Tới là nơi in truyền đơn, may cờ đỏ sao vàng. Hóa ra, dưới gốc cây bàng trước nhà ông Vĩnh Tường là kho vũ khí của Việt Minh. Chú Hồ Nhỏ, con tri phủ Hồ Ngân chuyên săn lùng Việt Minh, hóa ra là Việt Minh gộc. Con cháu tri phủ Hồ Ngân sau này đều là những trí thức cách mạng, giữ nhiều cương vị cao của chế độ ta. Quản Thượng bị giết, Quản Đại về thay đồn trưởng khố xanh để điều tra thủ phạm, hóa ra cũng người của Việt Minh nốt (trang 98)…

Nhà văn Nguyễn Quang Lập sinh năm 1956, Kỹ sư vô tuyến điện, Thượng úy cựu chiến binh, thuộc thế hệ đầu tiên của dòng Văn học Đổi mới. Hầu hết các tập truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng về đề tài chiến tranh của ông, như: Tiếng gọi nơi mặt trời lặn; Tình cát; Chuyện nhà quê; Cây Sến lửa… đều viết về miền Trung, Quảng Bình và Ba Đồn, nơi ông sinh ra và lớn lên. Và lần này là tiểu thuyết lịch sử Làng ta có một anh hùng

Có một liệt sĩ xứng danh Anh Hùng viết hoa

(Đọc “Làng ta có một anh hùng” – Tiểu thuyết của Nguyễn Quang Lập, NXB Kim Đồng, 2025)

Nguyễn Khắc Phê

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

Trước hết, xin có vài dòng “bên lề” .
Dạo này, do tuổi sắp chạm “cửu tuần”, mắt thì kèm nhèm (một mắt “cống hiến” cho các con đường từ hơn 60 năm trước, mắt còn lại, thị lực chi 3/10), nên ít đọc sách báo. Nhưng với tác phẩm mới của Nguyễn Quang Lập, tôi “đọc thử” hai chương rồi thấy khó buông sách vì liên tiếp bị… bất ngờ.

Nói vậy, vi tôi có “duyên” quen biết và dõi theo sáng tác của văn đa tài này từ khi chàng còn là sinh viên. Đó là năm 1975, ngay sau ngày Đất Nước thống nhất, tôi vừa nhập “làng” văn nghệ, ra Hà Nội, đến Đại học Bách Khoa tìm sinh viên Nguyễn Quang Lập trao giải thưởng thơ của Hội Văn nghệ Quảng Bình. Sau đó, tôi luôn được đọc những trang văn “đặc biệt” của Nguyễn Quang Lập, bắt đầu là những truyện ngắn đặc sắc đăng trên Tạp chí Sông Hương. Hai năm liền, Nguyễn Quang Lập lần được Tạp chí Sông Hương trao giải thưởng: “Người lính hay nói trạng” (SÔNG HƯƠNG số 9 năm 1984) và “Tiếng lục lạc” (Sông Hương số 12 năm 1985). Chính vì thế mà trong sông Hương số 32 (tháng 7/1988), Kỷ niệm 5 năm sông Hương ra số đầu tiên, do lúc đó Tổng biên tập Tô Nhuận Vỹ đang ở Liên Xô, tôi và Thư ký tòa soạn Thái Ngọc San quyết định chọn trích tiểu thuyết “Những mảnh đời đen trắng” của Lập cùng với bài thơ “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình” của Trần Vàng Sao một thời có “tai tiếng” nhưng nhờ Đổi mới, lại trở thành bài thơ nổi tiếng, năm 2020 được chọn làm nhan đề tập thơ được Giải thưởng sách Quốc gia. Chuyện xảy ra thời Bình Trị Thiên còn sum họp một nhà, Sông Hương là tiếng nói của phong trào văn nghệ ba vùng đất “hội tụ” tại Huế. 37 năm đã qua rồi, nhiều người đã biết, nhưng vẫn muốn nhắc lại, nhất là vào lúc “làng” báo chí đang sôi nổi chuẩn bị kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chi Cách mạng Việt Nam cũng như sự kiện sáp nhập Tỉnh và xã. Ôi! Làm sao quên được Lễ kỷ niệm 5 năm SÔNG HƯƠNG ra số đầu tiên, ngoài những tên tuổi văn nghệ Bình Trị Thiên, lãnh đạo văn nghệ tỉnh bạn và Trung ương, còn có khách từ nước Bê-lô-rut-xi-a, Hội Người yêu Huế tại Paris…

Tôi nhắc lại sự kiện này còn vì năm đó, lần đầu tôi bình luận về tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Quang Lập khi viết trang giới thiệu “Những mảnh đời đen trắng” trên Sông Hương số 32.. Trong bài viết có câu: “…Tôi cứ băn khoăn: Chẳng lẽ anh chỉ theo đuổi các số phận dị thường? Đến lúc cần dựng một nhân vật dung dị, liệu truyện còn sức hấp dẫn không?...”

Mấy chục năm qua, tôi không viết một bài nào về Lập nữa vì chàng sinh viên Bách khoa 50 năm trước ngày càng nổi tiếng cả với phim ảnh, tạp văn và cả với vai trò nhà báo, khi Lập được nhà văn Hòang Phủ Ngọc Tường mời ra xây dựng tờ “Cửa Việt”, rồi ra Hà Nội làm tờ “Văn nghệ trẻ”, tôi có viết gì thêm cũng bằng thừa. Nhưng nay, khi Lập đã sắp lên lão bảy mươi, chân đi cà nhắc sau một lần đột quỵ, chẳng còn bay nhảy ham hố chỉ nữa, tôi lại hăng hái “vào cuộc” vì…bất ngờ với tác phẩm mới của Lập. A! Cái lão nhà văn tưởng là chỉ theo đuổi các số phận dị thường, nay lại viết truyện anh hùng liệt sĩ cho nhà “Kim Đồng”! Đọc xong tác phẩm, tôi “ngộ” ra một điều: một nhà văn vốn có một giọng điệu riêng như Nguyễn Quang Lập, đã phải trải qua cả nửa thế kỷ học hỏi, trau dồi nghề nghiệp mới viết được một tác phẩm mà tôi tin sẽ có sức sống lâu bền như “Làng ta có một anh hùng”.

Bất ngờ nữa là trong danh sách những người mà tác giả cảm ơn đã cung cấp tư liệu cho “lão” viết cuốn sách này có tên người “chỉ huy tầm xa” của tôi là vị tướng lừng danh trên đường Trường Sơn huyền thoại Đồng Sĩ Nguyên (1923-2019) và một thủ trưởng trực tiếp của tôi trong năm 1966– ông Lại Văn Ly (1929-2015) - người đã tạo điều kiện cho tôi viết xong tập ký sự đầu tay về cuộc chiến đấu trên đoạn đường chiến lược dưới chân đèo Mụ Giạ: “Vì sự sống con đường” (NXB Thanh niên, 1968; NXB Thuận Hóa tái bản có bổ sung 2011). Vậy mà đến nay tôi mới biết ông Ly từ năm 1947-1948, cũng như liệt sĩ Nguyễn Tiến Nhẫn – nhân vật chính của cuốn sách, từng là thành viên nhóm điệp báo do tướng Trần Quý Hai tổ chức, đã tham gia trận tấn công vào đồn Hoàn Lão những mong giải cứu cho Nhẫn, sau khi anh bị địch bắt. Chính “người kể chuyện” cho tác giả viết nên tác phẩm này cũng bị… bất ngờ. Chương 7 cuốn sách có đoạn:
“…Còn nhiều bất ngờ thú vị lăm. Chú Thành làm nghề bốc vác ở bến chợ ga tàu, hiền lành nhu mì, suốt ngày không nói một tiếng, hóa ra là lãnh đạo Việt Minh đầu huyện đầu tỉnh. Chú Vũ bán dao, kéo, rựa ở chợ, vừa bán vừa ngủ, ngáy vang cả đình chợ, hóa ra là chỉ huy bộ đội chủ lực của huyện…” Cả hai đều là cấp trên trực tiếp của anh Nhẫn. Mà bạn có biết không, “Chú Thành”, tức là ông Cổ Kim Thành (1918-2005), cũng như ông Lại Văn Ly, sau này là lãnh đạo chủ chốt của Quảng Bình và tỉnh Bình Trị Thiên khi hợp nhất; còn “chú Vũ” tức là tướng Đồng Sĩ Nguyên nổi tiếng…
Cuốn sách còn nhiều bất ngờ nữa, xin nói sau vì chuyện “bên lề” có tính riêng tư mà dài quá rồi. Tuy chỉ là một bài báo, nhưng cái nghiệp văn đã quen đưa “cái riêng” vào trang viết. Mà hình như văn chương, đều thường bắt nguồn từ “cái riêng”, mới dễ chạm đến trái tim người đọc. Thì tác phẩm này của Nguyễn Quang Lập cũng vậy. Bạn đọc phần tiếp sau sẽ rõ. Người liệt sĩ – nhân vật chính của tiểu thuyết được miêu tả chủ yếu từ một góc nhìn riêng tư…
***

Người liệt sĩ ấy có tên thật là Nguyễn Tiến Nhẫn (1929-1948), hy sinh ngày 16/8/1948, quê làng Phan Long, thị trấn Ba Đồn (Quảng Bình). Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta đã có nhiều anh hùng được Nhà nước phong tặng, đồng thời có rất nhiều người từng lập được những chiến công xuất sắc, nhưng không chính danh là anh hùng, do nhiều nguyên nhân khác nhau. Người lập chiến công nổi tiếng được cả tướng Pháp kính nể là Con Hùm Xám Đặng Văn Việt, khi là sinh viên Trường Thanh niên tiền tuyến Huế đã kéo lá cờ cách mạng đầu tiên lên Kỳ đài Huế trước ngày khởi nghĩa, đến cuối đời chỉ là trung tá! Cũng có khi chi do điều kiện không kịp lập hồ sơ, hoặc một đơn vị - trong thời đoạn nào đó, chỉ có thể chọn một anh hùng. Vậy nên chàng thanh niên Ba Đồn hy sinh lúc 19 tuổi, là điệp báo viên khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa bắt đầu – một công việc thầm lặng, bí mật, thành tích không phải ai cũng biết, chưa (hoặc không) được phong tặng danh hiệu anh hùng là điều dễ hiểu.
Vì thế, từ “anh hùng”, đúng ra phải đặt trong ngoặc kép (“…”) do đây là anh hùng mới được nhà văn Nguyễn Quang Lập phong tặng khi in cuốn sách này. Tuy vậy, đọc xong tác phẩm, tôi xin được tôn vinh người liệt sĩ trẻ tuổi xứng danh là một Anh Hùng viết hoa. Thành tích của anh xứng đáng như thế, chứ không phải do nhà văn tô vẽ, thổi phồng. Chỉ riêng tài trí, công phu trong thời gian anh luồn sâu vào hang ổ địch lấy được kế hoạch 2 đợt càn quét lớn nhằm xóa sổ làng chiến đấu Cảnh Dương anh hùng khiến chúng thảm bại đã là một chiến công đặc biệt xuất sắc. Trận đánh nổi tiếng đã được ghi vào sử sách; tôi đã thử “kiểm tra”, gõ từ “làng Cảnh Dương” thấy ngay bài báo “Làng chiến đấu Cảnh Dương” trên báo “Quân đội nhân dân” ngày 13/12/2006 có đoạn viết:
“…Biết bao lần kẻ thù hung hãn mưu toan “san phẳng” Cảnh Dương nhưng đều thất bại thảm hại. Nổi bật nhất là trận chống càn của quân và dân Cảnh Dương ngày 12-7-1948. Hôm đó, địch tấn công ra Cảnh Dương bằng 3 cánh quân với lực lượng hơn 1.000 tên, 31 xe cơ giới, 12 máy bay và 8 tàu chiến, ca-nô. Cánh thứ nhất từ Ba Đồn theo Quốc lộ 1A đánh vào phía Nam. Cánh thứ hai bằng không quân chở lính dù đổ bộ xuống vùng Tây Bắc. Cánh thứ ba địch sử dụng tàu chiến, ca-nô tấn công bằng đường biển. Sau khi dùng hỏa lực từ biển cấp tập bắn vào làng để uy hiếp, các cánh quân Pháp tiến vào, tạo thành gọng kìm hòng xóa sổ làng Cảnh Dương bất khuất…”

Nguyễn Quang Lập không hề bịa ra trận đánh lịch sử này; chỉ khác, anh miêu tả với cây bút của một nhà văn có tài, trong đó có công lao của điệp báo viên Nguyễn Tiến Nhẫn. Mặt khác, nhờ công phu sưu tầm tư liệu, qua lời kể của “bà cụ Lê” – một nhân chứng thời đó, tác giả còn cho biết làng Cảnh Dương bị kẻ địch tấn công nhiều lần vì đó là “Cảng Việt Minh”. “Rồi đây sử sách sẽ ghi chép. Chỉ riêng một ngôi làng nhỏ trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã vận chuyển 674 tấn hàng, đã viết nên một cuốn sử lớn… Thời kháng Pháp đó là con số dễ sợ, nể lắm. Cảnh Dương có Binh trạm 11, có Đội vận tải biển 139…” Bà cụ Lê đã nói như thế ở trang mở đầu trận càn quét dữ dội nhất vào làng Canh Dương. Như thế, từ câu chuyện một liệt sĩ, những trang sử anh hùng của một vùng đất nổi tiếng thời Bình Trị Thiên khói lửa” vẫn là một kho báu vô tận cho nhà văn sáng tạo. Đó là chưa nói, thời chống Mỹ, những tay chèo kỳ cựu và dũng cảm ở Cảnh Dương là một trong số đội quân mở đường “Đường Hồ Chí Minh trên biển” tiếp vận cho chiến trường Trị Thiên ruột thịt. Sự tích này tôi được biết chính trong thời gian bắt đầu về làm việc dưới “trướng” ông Lại Vàn Ly!

Cho dù vậy, như tôi hiểu, tác giả viết tác phẩm này không nhằm “bổ sung”, làm sáng tỏ thành tích, công lao của người liệt sĩ đã hy sinh từ hơn 70 năm trước. Đúng như NXB Kim Đồng giới thiệu, “Câu chuyện về chàng trai ở ngôi làng Phan Long nhỏ bé ven bờ sông Gianh sớm có lòng yêu nước rồi trở thành một tình báo viên trẻ tuổi đã được nhà văn Nguyễn Quang Lập kể lại theo cách đặc biệt của mình…” “Cách đặc biệt” đó chính là thủ pháp, giọng điệu riêng của nhà văn. Dù vậy, tôi vẫn bất ngờ với tác phẩm mới của Lập. Tôi tin là nhiều người cũng… bất ngờ, nhất là vì tên sách dễ làm bạn đọc tưởng đây là truyện anh hùng mà chúng ta từng quen. Trong “Lời nói đầu”, tác giả viết: “Đây là một sáng tác, một tiểu thuyết được viết với thủ pháp trộn lẫn giữa hư cấu và phi hư cấu…” Thủ pháp này, nhiều tác giả viết tiểu thuyết lấy nguyên mẫu là những con người có thật đã sử dụng. Cái “đặc biệt” – cái tài của Lập là đã tạo ra một không gian nghệ thuật đầy chất lãng mạn, tươi trẻ mà vẫn chân thật, chuyển tải được các thành tích, phẩm chất cốt yếu của người anh hùng.

Nói theo danh từ của học giả Phan Ngọc, cái “mẹo” cao cường của tác giả trong cuốn tiểu thuyết này là mượn đôi mắt trẻ thơ của cô láng giềng Mai Thị Lê, ngày đêm nhìn ngắm chàng Nguyễn Tiến Nhẫn qua khung cửa sổ luôn có cánh bướm vàng bay lượn suốt 19 năm ròng, rồi kể lại cho chúng ta nghe mọi hoạt động của chàng. Rất nhiều câu chuyện vui đùa dí dỏm, nhiều trò nghịch ngợm của nhóm trẻ làng Phan Long: Bộ ba Nhẫn-Lê và Trinh, con nhà tư sản Thuận Đức yêu nước. Nhiều tiểu thuyết đã dựng những mối tình “tay ba” hấp dẫn; nhưng ít có mồi tình “tay ba” thơ trẻ cảm động và đẹp như bộ ba Nhẫn-Lê-Trinh. Những trang miêu tả tình yêu của bộ ba này, khi thực khi mơ, lúc thầm kín rụt rè nhưng cũng có phút bồng bột, nồng ấm và thật lãng mạn, nhất là sau những ngày Nhẫn “biệt tích” , hoặc nghe đồn anh bị bắt, nhưng rồi bất ngờ hiện về. Trong chương nhắc lại chiến công của Nhẫn khi làm liên lạc cho “chú Vũ” (tên thật của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên) từ năm 12 tuổi, anh đã khôn khéo lợi dụng các cây trâm bầu rỗng ruột để làm chỗ ẩn nấp tránh địch, “bà cụ Lê” cho biết: “lâu lâu anh “mất tích” một tuần, rồi bất ngờ xuất hiện trước cửa sổ nhà em. Một tuần vắng anh với em là bảy thế kỷ. Bảy thế kỷ, em ngồi tưởng tượng anh đi về những đâu …” Trong một lần Nhẫn bất ngờ trở về, “bà cụ” nhớ lại:
Em sợ anh biến mất, vội vàng kéo tay anh qua cửa sổ hôn lấy hôn để, áp hai tay lên má em.
C’ est lui pour moi, moi pour lui dans là vie…
Anh hát rồi em hát, chúng mình cùng thì thầm hát… »

Nhẫn đậu Primaire, nói tiếng Pháp cực siêu, nên ông Trần Quý Hai (1913-1985; nguyên là Tư lệnh chiến trường Bình Trị Thiên, về sau là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) mới chủ trương “cài” anh vào hàng ngũ địch. Anh ghét thằng Tây xâm lược, nhưng rất thích hát tiếng Pháp rồi dạy cho cô bé láng giềng cùng hát. Thích nhất là bài “La vie en rose” (Đời màu hồng) mà cô giáo Angelie dạy Trường Phủ tập cho cả lớp, trong đó có câu “Anh thuộc về em, em thuộc về anh suốt cuộc đời này”.

Lời kể của « bà cụ Lê », khi là tiếng nói « người trong cuộc » - đó là những cảnh, những tình tiết « cụ » trực tiếp tham gia lúc còn trẻ; nhưng nhiều khi là sự việc thuật lại theo lời kể của người cùng hoạt động với anh Nhẫn. Cách thể hiện lời kể của bà cụ cũng rất «đặc biệt », uyển chuyển, khi hư khi thực, lúc lại là giấc mơ… Bạn đọc có thể nghĩ « bà cụ » kể lại chuyện đời xưa cho tác giả nghe, nhưng thật ra, chủ yếu là giọng điệu của «bà cụ » trò chuyện với vong linh người yêu đã hy sinh! Hình ảnh con bướm vàng luôn xuất hiện, khi thực, khi mơ hẳn là biểu tượng sự hiện hữu của tâm linh con người, cả lúc thể xác đã về với cát bụi.

Với một lối viết như thế, tác phẩm trở nên phong phú, sinh động nhờ tính đa chiều, đa thanh.

“Mẹo” tiểu thuyết của Nguyễn Quang Lập còn thể hiện ở kết cấu tác phẩm. Tác giả đã công phu tạo dựng một kết cấu xen kẽ thực-hư trong cả 16 chương sách. Mở đầu mỗi chương là cuộc đối thoại ở thời điểm hiện tại giữa tác giả và bà cụ Lê 91 tuổi – người yêu của liệt sĩ, đang sống tại Thành phố Hồ Chí Minh (một trong hai nhân chứng còn sống đã cung cấp tư liệu cho tác giả và có thể là « nguyên mẫu » của nhân vật này). Đoạn đối thoại này in chữ xiên. Ví như mở đầu Chương 7, tác giả hỏi bà cụ Lê:
- Năm 1945, thím 12 tuổi?
- Tuổi « mụ » là mười ba. Ngày đó con gái tuổi mười ba là đến tuổi cặp kê rồi […] Tui nói với anh Lập rồi mà, tui yêu anh Nhẫn khi còn trong bụng mẹ
Sau đó là câu chuyện kể của bà với nhiều góc nhìn khác nhau; mặc dù có phần « hư cấu » như tác giả đã «tự thú » trong « Lời nói đầu »; nhưng đoạn đối thoại mở đầu với tính chân thật 100% đã tạo niềm tin cho độc giả suốt cả tác phẩm, trong đó, nhiều sự kiện lịch sử đã được tái hiện một cách sống động như nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu-1945 hay cảnh dân chúng đón phái đoàn Gô Đa khi Mặt trận Bình dân ở Pháp lên nắm quyền (1936-1939), rồi cảnh Nhật đảo chính và những ngày vui sau Cách mạng Tháng Tám… Và chính là khi đọc những trang văn thuật lại những sự kiện nhiều người đã biết với góc nhìn “riêng tư” của các nhân vật, tôi lại bị… bất ngờ do được gặp lại một người quen – anh Hồ Văn Danh (1924-2012). Thật không ngờ ông anh thân thiết cùng sống gần 8 năm trời trong những căn “nhà hầm” thời phản lực Mỹ gầm rú suốt ngày đêm tại Trại Cau (nơi sơ tán của Sở Giao thông Quảng Bình), sau tháng 8/1945 là thành viên Ủy ban cách mạng lâm thời khu vực Phan Long-Ba Đồn, nên được cử phụ trách “Tuần Hội sách báo” trong chuỗi hoạt động sôi nổi Tuần lễ vàng, xóa mù chữ, chống giặc đói ngay khi chính quyền Việt Minh được thành lập. Trong Chương 9 của tác phẩm, “bà cụ Lê” đã nhớ lại:
Anh và anh Trinh đứng gian báo chí. Nghe anh giới thiệu với bà con, biết anh đã đọc hết các báo Cờ Giải phóng, Tiếng Dân, Phong hóa, Ngày nay… Có lẽ anh đã đọc từ tuổi lên mười. Em được đứng gian sách văn, những Bỉ vỏ, Số đỏ, Tắt đèn, Bước đường cùng… toàn những tiểu thuyết lần đầu em mới thấy […] Chúa thương em. Cách mạng cũng thương em nốt. Ơn Chúa, ơn Cách mạng, “cô bé da trắng tóc dài” được nhiều người biết đến. Em đi đâu cũng có những cái nhìn theo. Chúa còn thương em khi em được chọn cùng anh, “chàng Phan Long đẹp trai”, nâng ảnh Cụ Hồ ở hội chợ…”
Đó là lời “bà cụ Lê” kể lại với góc nhìn khi còn là cô bé 12 tuổi. Ôi chao! Chỉ định dẫn một chỉ tiết “riêng tư” được gặp lại anh Danh trong sách; thế mà lại trích dẫn dài dòng. Cũng bởi… bị lối viết của chàng Lập thu hút, nhưng quan trọng hơn là câu chuyện của cô bé Lê kể lại làm tôi ngộ ra một điều không hề riêng tư và nhỏ bé. Thì ra cái vùng đất Ba Đồn lâu nay “thiên hạ” tưởng chỉ là nơi hội tụ dân buôn bán nổi tiếng với chợ Bò, té ra lại rất văn hoá – văn hoá theo nghĩa đẹp nhất của từ này. Có mấy nơi tổ chức được “Tuần Hội sách báo” ngay sau nạn đói kinh hoàng và dân chúng nhiều người còn mù chữ. Trong sự kiện nhỏ mà đặc sắc này có một chi tiết không nên bỏ qua: Nhà thuốc Thông Dư của ông Lưu Trọng Dư, em trai nhà thơ Lưu Trọng Lư, là người tài trợ cho Hội Sách! Vậy nên vùng quê này mới sản sinh ra khá nhiều người “có chữ”, trong đó chàng liệt sĩ tuổi 19 và cô bé Lê hơn mười tuổi không theo Đạo Ki-tô nhưng lại tin có Chúa, đều biết nói tiếng Tây, thích hát cả “La Marseillaise” Quốc ca Pháp, mà lại hăng hái chống quân xâm lược!

Có lẽ cũng cần nói thêm công phu về mặt ngôn ngữ của tác giả trong tác phẩm này. Như tôi được biết, Nguyễn Quang Lập hình như chỉ học tiếng Nga; riêng việc in nguyên văn các bài hát tiếng Pháp cùng vô số tên vũ khí, đơn vị lính tráng bằng tiếng Pháp có chú thích rất chi tiết đã phải tốn không ít thời gian và tâm sức. Tác giả còn thận trọng trong việc dùng từ địa phương khi đối thoại, hay gọi tên các cây cỏ, trò chơi, địa danh… vừa đủ tạo nên “không khí” truyện, vừa không “làm khó” cho bạn đọc rộng rãi, đồng thời có chú thích kỹ lưỡng… Đó không chỉ là công phu mà còn thể hiện tình yêu của tác giả đối với quê hương và trách nhiệm của nhà văn đối với bạn đọc.
***

Nếu tôi không nhầm, có rất nhiều anh hùng thành tích lẫy lừng, luôn được đề cao trong những dịp kỷ niệm trang trọng, nhưng không (hoặc chưa) trở thành nhân vật tiểu thuyết như Nguyễn Tiến Nhẫn. Sau khi bị địch xử bắn ngày 16/8/1948, người thanh niên 19 tuổi này chỉ là một liệt sĩ như ngàn vạn người con đất Việt đã hy sinh vì Độc lập và Tự do của Tổ Quốc ; đến nay, nhờ tài năng của nhà văn, chàng trai chưa mấy ai biết tên ở ven bờ sông Gianh, đã thành một ANH HÙNG viết hoa trong lòng độc giả. Nói cách khác, văn học nghệ thuật có giá trị đích thực là sự tôn vinh lớp người đã hy sinh xương máu cho dân tộc một cách đẹp nhất, lâu bền nhất.

Có thể nói: nhà văn Nguyễn Quang Lập đã may mắn tìm được một nguyên mẫu để dựng một liệt sĩ có thật trở thành nhân vật tiểu thuyết sinh động; và ngược lại, liệt sĩ Nguyễn Tiến Nhẫn đã có “duyên” được nhà văn quê hương chọn làm nhân vật tiểu thuyết để có hạnh phúc sống “mãi mãi tuổi hai mươi” trong lòng độc giả nhiều thế hệ như nhà văn Đức Anna Seghers đã viết trong tiểu thuyết “Những người chết còn trẻ mãi”…

Từ nhân vật trung tâm là một liệt sĩ, tác giả đã dựng nên bối cảnh cuộc chiến đấu và đời sống muôn vẻ của cả một vùng đất khá đặc biệt ở phía bắc Sông Gianh một thời « Bình Trị Thiên khói lửa ». Bên cạnh các “thủ trưởng” của Nguyễn Tiến Nhẫn – về sau trở nên những tên tuổi nổi tiếng như tướng Đồng Sĩ Nguyên, Trần Quý Hai…, tác giả đã miêu tả nhiều hoạt động thể hiện lòng yêu nước của rất nhiều lớp dân cư một vùng đất 90% theo Việt Minh, trong đó có nhiều trí thức, các nhà buôn, con cháu của quan phủ Quảng Trạch…

Còn nhiều điều đáng viết về cuốn sách này. Để các bạn còn tìm sách đọc, ôi đã “bỏ qua” không nói đến nhiều đoạn miêu tả trò chơi thuở ấu thơ rất thú vị, cũng như những hoạt động tình báo khá hồi hộp, rồi chuyện Nhẫn đã lọt được vào hang ổ đich bằng cách nào, cũng như vì sao anh bị bắt… Chỉ “tiết lộ” thêm lý do cuộc tấn công vào Hoàn Lão để giải thoát anh Nhãn do chinh “chú Vũ” lập kế hoạch đã thất bại vi không ngờ địch đã chuyển anh vào nhà lao Đồng Hới ngày trước! Và thế là chúng dẫn anh ra Ba Đồn xử bắn trước hàng vạn người dân quanh vùng, trong đó có “em Lê”. Trong trang cuối sách, người yêu của Nhẫn đã nhớ lại:
“…Bỗng anh ngẩng phắt lên nhìn về phía em, cái nhìn đẫm máu rực sáng lửa tình. Cái nhìn cuối cùng anh dành cho em trước khi về trời. […] Ba phát trúng anh… Có hai phát bắn trượt. Nhưng cả năm phát đạn đều trúng tim em!

Đó là đoạn cuối Chương 16. Không phải ngẫu nhiên tác giả kết cấu tác phẩm với 16 chương. Anh Nhẫn hy sinh vào lúc người yêu của anh lên tuổi 16 trăng tròn!

Vậy đó! Tôi đã định gọi cuốn tiểu thuyết này là một bản tình ca. Không chỉ vì mối tình Nhẫn-Lê đẹp mà đau đớn như một huyền thoại mà còn vi tình yêu vô bờ của tác giả đối với mỗi tên xóm, mỗi căn nhà, mỗi gốc cây, mỗi phiên chợ, mỗi món ăn… của quê hương. Và chính là trong hai cuộc trường chinh của vừa qua tn dt Việt, kẻ xâm lược giàu súng đạn, rút cục đã thất bại trước một dân tộc đã chiến đấu với tình yêu cao đẹp đó…

Bản tình ca về một anh hùng

Nguyễn Khắc Phê


Đúng như NXB Kim Đồng giới thiệu, “Câu chuyện về chàng trai ở ngôi làng Phan Long nhỏ bé ven bờ sông Gianh sớm có lòng yêu nước rồi trở thành một tình báo viên trẻ tuổi đã được nhà văn Nguyễn Quang Lập kể lại theo cách đặc biệt của mình…”

Tôi có “duyên” quen biết và dõi theo sáng tác của văn đa tài này từ khi chàng còn là sinh viên, luôn được đọc những trang văn “đặc biệt” của Nguyễn Quang Lập; vậy mà vẫn bất ngờ với tác phẩm mới của Lập. Tôi tin là nhiều người cũng… bất ngờ, nhất là vì tên sách dễ làm bạn đọc tưởng đây là truyện anh hùng mà chúng ta từng quen. Trong “Lời nói đầu”, tác giả viết: “Đây là một sáng tác, một tiểu thuyết được viết với thủ pháp trộn lẫn giữa hư cấu và phi hư cấu…” Thủ pháp này, nhiều tác giả viết tiểu thuyết lấy nguyên mẫu là những con người có thật đã sử dụng. Cái “đặc biệt” – cái tài của Lập là đã tạo ra một không gian nghệ thuật đầy chất lãng mạn, tươi trẻ mà vẫn chân thật, chuyển tải được các thành tích, phẩm chất cốt yếu của người anh hùng.

Cũng có thể nói, nhân vật chính của tiểu thuyết – anh Nguyễn Tiến Nhẫn (1929-1948), sau khi bị địch xử bắn, chỉ là một liệt sĩ như ngàn vạn người con đất Việt đã hy sinh vì Độc lập và Tự do của Tổ Quốc, đến nay, nhờ tài năng của nhà văn, chàng trai 19 tuổi chưa mấy ai biết tên ở ven bờ sông Gianh, đã thành một ANH HÙNG viết hoa trong lòng độc giả. Nói cách khác, văn học nghệ thuật có giá trị đích thực là sự tôn vinh lớp người đã hy sinh xương máu cho dân tộc một cách đẹp nhất, lâu bền nhất. Một liệt sĩ hy sinh đã hơn bảy thập kỷ, lại hoạt động trong môi trường bí mật, đơn tuyến, thành tích không mấy người biết, từ “một ít tư liệu” do người làng kể lại, tác giả đã rất công phu tìm đến những người hoạt động cùng thời và những sử sách liên quan, mới tạo dựng nên bối cảnh cuộc chiến đấu và đời sống muôn vẻ của cả một vùng đất khá đặc biệt ở phía bắc Sông Gianh, chứ không chỉ là cuộc đời của một liệt sĩ. Bên cạnh các “thủ trưởng” của Nguyễn Tiến Nhẫn – về sau trở nên những tên tuổi nổi tiếng như tướng Đồng Sĩ Nguyên, Trần Quý Hai…, tác giả đã miêu tả nhiều hoạt động thể hiện lòng yêu nước của rất nhiều lớp dân cư một vùng đất 90% theo Việt Minh, trong đó có các nhà buôn, con cháu của quan phủ Quảng Trạch…

Tinh chân thực nghệ thuật của tiểu thuyết còn nhờ tác giả công phu tạo dựng một kết cấu xen kẽ thực-hư trong cả 16 chương sách. Mở đầu mỗi chương là cuộc đối thoại ở thời điểm hiện tại giữa tác giả và bà cụ 91 tuổi – người yêu của liệt sĩ, đang sống tại Thành phố Hồ Chí Minh; sau đó là câu chuyện kể của bà, với nhiều góc nhìn khác nhau…

Nói theo danh từ của học giả Phan Ngọc, cái “mẹo” cao cường của tác giả trong cuốn tiểu thuyết này là mượn đôi mắt trẻ thơ của cô láng giềng Mai Thị Lê, ngày đêm nhìn ngắm chàng Nguyễn Tiến Nhẫn qua khung cửa sổ luôn có cánh bướm vàng bay lượn suốt 19 năm ròng, rồi kể lại cho chúng ta nghe mọi hoạt động của chàng. Rất nhiều câu chuyện vui đùa dí dỏm, nhiều trò nghịch ngợm của nhóm trẻ làng Phan Long: Bộ ba Nhẫn-Lê và Tín (anh trai của Lê, bạn học cùng lớp với Nhẫn); không may, do bị “chuột rút”, Tín chết đuối dưới hói khi mới lên bảy tuổi; rồi “bộ ba” mới hình thành với người thay thế là Trinh, con nhà tư sản Thuận Đức yêu nước. Nhiều tiểu thuyết đã dựng những mối tình “tay ba” hấp dẫn; nhưng ít có mồi tình “tay ba” thơ trẻ cảm động và đẹp như bộ ba Nhẫn-Lê-Trinh. Bé Lê thì bảo mình “yêu anh Nhẫn từ trong bụng mẹ”, nên mặc Trinh tỏ dấu hiệu yêu thích, Lê cứ ngó lơ… Những trang miêu tả tình yêu của bộ ba này, khi thực khi mơ, lúc thầm kín rụt rè nhưng cũng có phút bồng bột, nồng ấm và thật lãng mạn, nhất là sau những ngày Nhẫn “biệt tích” , hoặc nghe đồn anh bị bắt, nhưng rồi bất ngờ hiện về.

“Em sợ anh biến mất, vội vàng kéo tay anh qua cửa sổ hôn lấy hôn để, áp hai tay lên má em.
C’ est lui pour moi, moi pour lui dans là vie…
Anh hát rồi em hát, chúng mình cùng thì thầm hát… »
Nhẫn đậu Primaire, nói tiếng Pháp cực siêu, nên ông Trần Quý Hai mới chủ trương “cài” anh vào hàng ngũ địch. Anh ghét thằng Tây xâm lược, nhưng rất thích hát tiếng Pháp rồi dạy cho cô bé láng giềng cùng hát. Thích nhất là bài “La vie en rose” (Đời màu hồng) mà cô giáo Angelie dạy Trường Phủ tập cho cả lớp, trong đó có câu “Anh thuộc về em, em thuộc về anh suốt cuộc đời này”.

Tôi gọi cuốn sách này là một bản tình ca không chỉ vì mối tình Nhẫn-Lê đẹp mà đau đớn như một huyền thoại mà còn vi tình yêu vô bờ của tác giả đối với mỗi tên xóm, mỗi căn nhà, mỗi gốc cây, mỗi phiên chợ, mỗi món ăn… của quê hương. Và trong hai cuộc trường chinh, chính là kẻ xâm lược giàu súng đạn, rút cục đã thất bại trước một dân tộc đã chiến đấu với tình yêu cao đẹp đó…

MỘT TIỂU THUYÊT LỊCH SỬ ĐỘC ĐÁO

Hoàng Thuỵ Anh


Làng ta có một anh hùng là tiểu thuyết đầu tiên của nhà văn Nguyễn Quang Lập dành cho lứa tuổi 11- 15. Ngay từ phần Lời nói đầu, người đọc đã phần nào cảm nhận được những khó nhọc mà nhà văn Nguyễn Quang Lập phải trải qua trong hành trình tìm kiếm tư liệu về cuộc đời Nguyễn Tiến Nhẫn từ năm 1986 đến bây giờ, trên 30 năm với hàng chục cuộc gặp gỡ với đồng đội và người làng của người anh hùng đã hy sinh từ năm 1948.

Nguyễn Tiến Nhẫn, nhân vật trung tâm của truyện, không xuất hiện trực tiếp mà hiện lên qua hai lớp hồi tưởng, thông qua hai ngôi kể: ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai. Mỗi chương truyện đều song hành hai lớp kể, đan cài giữa hiện tại và quá khứ, giữa dòng sự kiện lịch sử và hành trình trưởng thành của anh Nhẫn từ một cậu bé hiếu động đến một chiến sĩ tình báo gan dạ, thông minh. Chân dung người anh hùng dần dần được tái hiện qua dòng hồi ức và cảm xúc của người kể, tạo sự tự nhiên và có chiều sâu về mặt cảm xúc. Những suy nghĩ, tình cảm ấy được đan bện với các mốc lịch sử theo trình tự tuyến tính, gắn bó mật thiết với ngôi làng Phan Long thân thương, giúp độc giả nhỏ tuổi dễ dàng theo dõi và ghi nhớ.

Mặc dù không có yếu tố kỳ bí hay phá án như trong truyện trinh thám, Làng ta có một anh hùng vẫn cuốn hút bởi nhiều tình tiết hồi hộp, gay cấn và đầy xúc động. Câu chuyện một tình báo viên được lồng ghép với mối tình thuở thiếu thời “đẹp như nước mắt” càng cuốn hút người đọc.

Chiến tranh, điều không ai mong muốn, bởi dù thắng hay thua, bên nào cũng phải gánh chịu những mất mát, tổn thất nặng nề. Thấu hiểu tính chất hai mặt của chiến tranh, nhà văn Nguyễn Quang Lập lựa chọn cách xây dựng nhân vật chân thật, thẳng thắn phản ánh trực diện sự bạo tàn của chiến tranh cùng nỗi nghiệt ngã mất mát quá lớn của người dân, chứ không ngợi ca ồn ào, một chiều. Ngay cả khi đứng trước họng súng kẻ thù, trước khi hô vang: “Hồ Chủ Tịch muôn năm!”, người anh hùng mười chín tuổi vẫn kịp nhìn sâu vào mắt người yêu. Trường đoạn cuối cùng này đã làm người đọc bật khóc.

Người dân làng Phan Long bình dị, chất phác nhưng gan dạ, quả cảm, giàu lòng yêu nước, sẵn sàng đánh đổi cả tính mạng vì cuộc chiến giành độc lập. Họ không sợ cái chết, họ chỉ sợ đất nước rơi vào tay giặc. Những nhân vật như chú Cúc, bị Pháp tra tấn dã man vẫn giữ vững khí tiết, hay chú Đáo liều mình giấu bom tự chế trong gánh củi để đánh vào đồn Minh Lệ, đều là minh chứng về tinh thần bất khuất ấy. Hình ảnh chú Nguyễn Phúc trèo lên ngọn cây cao treo cờ đỏ sao vàng, cứ nghĩ là hành động nhỏ bé, nhưng đó là là tín hiệu đầy dũng cảm báo cho cả làng biết Cách mạng vẫn đang tiếp diễn, vẫn còn ánh sáng dẫn đường. Những cái chết đầy bi tráng này đã làm sống dậy câu chuyện lịch sử, nó không thuần túy là mốc thời gian lạnh lẽo, cứng nhắc, mà đã trở thành những dòng cảm xúc xúc động, thấm thía, giúp các thế hệ hôm nay, nhất là thiếu nhi, cảm nhận được phần nào sự nghiệt ngã, gian khổ nhưng đầy khí phách của cha ông, để thêm trân trọng giá trị của hòa bình và độc lập hôm nay.

Điểm đặc sắc trong tác phẩm là việc nhà văn sử dụng linh hoạt hai ngôi kể: ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai. Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất là thím Lệ (Mai Thị Lê, khi ấy đã 91 tuổi), xưng “tui” và trò chuyện trực tiếp với anh Lập – tức chính nhà văn. Ở ngôi thứ hai, vẫn là thím Lệ nhưng quay về quá khứ, xưng “em” để kể lại những hồi ức thuở nhỏ với anh Nhẫn, cụ thể là từ 2 tuổi trở đi. Hai lớp kể, lớp hiện tại và lớp hồi tưởng, đan xen, bổ sung cho nhau, tạo nên một cấu trúc vừa vững chắc vừa truyền cảm. Tình cảm anh em, tình quê hương, sự nhớ nhung, mến thương,… quện thành mạch cảm xúc ấm áp, nhân văn.

Trong Làng ta có một anh hùng, Nguyễn Quang Lập gửi gắm nhiều bài học về lòng hiếu thảo, tình anh em, tình bạn, nghĩa xóm làng, về sự gan dạ, bản lĩnh và niềm tự hào dân tộc… Tái hiện hành trình của một người anh hùng, nhà văn đồng thời dựng lại những nét đẹp văn hóa của làng quê Phan Long thông qua phong tục, tập quán, lối sống, cách cư xử và tinh thần đoàn kết chống giặc. Lật giở trang sách, các em nhỏ được làm quen với chợ Ba Đồn sầm uất, chợ lớn nhất miền Trung một thời; được khám phá những thức quà dân dã mang đậm hương vị quê hương; cảm nhận tình cảm gắn bó giữa các xóm như xóm Cây Bàng, xóm Cau, xóm Gát… Tất cả những chi tiết này cho thấy sự quan sát tỉ mỉ và vốn hiểu biết sâu sắc của Nguyễn Quang Lập về vùng đất nơi ông đã sinh ra và lớn lên.

Đọc Làng ta có một anh hùng bạn đọc nhỏ tuổi còn được đắm mình trong những câu văn mềm mại, giàu hình ảnh, thấm đẫm chất thơ của Nguyễn Quang Lập. Tác phẩm kể chuyện bằng giọng văn dung dị qua việc sử dụng một lớp từ ngữ địa phương phong phú như “mệ”, “mạ”, “tui”, “bay”, “răng”, “ri”, “mô”, “rứa”, “chi”, “ni”… Lớp từ này phần nào thể hiện sự mộc mạc, chân phương trong tính cách, lối sống cũng như tâm hồn người miền Trung. Không dừng lại ở đó, ông còn khéo léo đưa những câu ca dao, lời hát vào trong tác phẩm để làm mềm hóa những sự kiện lịch sử khốc liệt, để phản ánh tinh thần lạc quan, yêu đời, sự thông minh và gan dạ của người dân trong kháng chiến. Thậm chí, có những lúc, lời ca tiếng hát đã trở thành mật mã liên lạc bí mật giữa quần chúng và cách mạng. Nhờ vậy, những trang văn lịch sử của ông đậm chất trữ tình dễ đi vào lòng bạn đọc nhỏ tuổi.

Theo cách nói hình ảnh của Alexandre Dumas cha, lịch sử tựa như khung xương, còn văn chương là tấm áo choàng lộng lẫy khoác lên. Người viết văn học lịch sử như. nghệ nhân điêu khắc vừa phải giữ cốt cách nguyên bản của lịch sử, vừa phải tạc vào đó nhịp đập đời sống và tâm hồn con người hôm nay. Nếu sa đà vào chi tiết, sự kiện đã đông cứng trong sử sách, tác phẩm sẽ thiếu sức sống, không có sự hấp dẫn. Nếu buông lơi ngòi bút theo mạch cảm xúc chủ quan, nguy cơ làm sai lệch hình ảnh quá khứ là điều khó tránh. Làm thế nào để những nhân vật lịch sử có da có thịt bước ra khỏi trang sách, cất lên tiếng nói? Làm thế nào để văn học lịch sử chạm đến những ẩn mật trong lòng thời gian? Đây là bài toán hóc búa mà bất cứ nhà văn nào dấn thân vào thể loại này cũng phải đối mặt và phải giải được. Với Làng ta có một anh hùng, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã giải được bài toán này, ông đã cho ra một tiểu thuyết lịch sử độc đáo và đặc sắc.


...“ÔNG CÓ BIẾT CHỮA PHIẾU CƠM KHÔNG?”

Trần Ngọc Tuấn

Viết sau khi biết tin nhà văn Nguyễn Quang Lập bị bắt)


Lâu rồi, (mình không có thói quen đếm tháng với năm). Mình với Lập có nhiều bạn chung trong giới làm cái “Nghiệp” chứ không phải “Nghề” gọi cho nó có vẻ “sang trọng” là viết văn. Quen nhau từ lúc nào hở Lập? Hình như, cái thời ông còn dùng Yahoo -360-Plus thì phải. “Chát chít”, “Còmmen” rồi xin số phone, rồi trao đổi bài.
Khi nào thật cần (chuyện bài vở xin bài này bài nọ) mình mới phone cho Lập. “Bọ” nói chuyện rất ngắn, chỉ đủ hàm lượng thông tin. (Hình như Bọ lo mình gọi từ nước ngoài về tốn tiền hay sao ấy?).
Lập là vậy. Chỉnh chu, nghiêm túc, sống rất tình cảm. Chỉnh chu với vợ con, bạn bè. Cái giới tạm gọi là văn nghệ sĩ thường sống rất bựa. Lười tắm, nhậu nhẹt... Lập thì ngược lại.
Hôm mình về Việt Nam. Trong danh sách những người mà mình cần gặp, và phải gặp đầu tiên là “Bọ Lập”. Về, suốt ngày say, nhậu với anh Tạo (Nguyễn Trọng Tạo) lại nhớ Lập viết trong “Bạn Văn”…”Cô nào mà yêu ông Tạo thì phải dùng đũa gắp chim…”. Mình nhắc lại, anh Tạo cười: Ý nó trêu anh lười tắm, nhưng bây giờ anh sạch rồi. Yêu anh lắm nó mới viết như thế.
Nghe anh Tạo nói, mình thấy quý Lập hơn, và mừng khi Lập bỗ bã với bạn bè, có nghĩa là yêu lắm đấy!
Từ đó suy ra: Lập có viết về cái sai, cái xấu, cũng là để cho mọi sự tốt lên, thiên chức của nhà văn là vậy.
Vào Sài Gòn, mình phone cho Lập: Tôi muốn gặp ông. Bọ đang ở đâu? Lập nói: Đang ở quán bờ Kè ven sông Sài Gòn (nếu mình nhớ không lầm). Lập nói tiếp: Ông đưa phone cho người Taxi, tôi hướng dẫn cho họ… Cuối cùng thì mình cũng mò tới quán Lập ngồi.
Mình nghĩ chỉ gặp Lập. Ai ngờ gặp cả “Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt” (nhà thơ Đỗ Trung Quân) mà Lập trêu, người có 35 kg, nhưng riêng cái “của nợ” ấy đã…5 kg rồi). Gặp Huy Đức tác giả bài viết “Bức Tường Berlin” và sau này là “Bên Thắng Cuộc”. Gặp là phải nhậu rồi, không nhậu, có mà điên!
Lập ít nói, chỉ thủng thẳng, nhưng đã nói thì rất chắc, hài, logich (đúng kiểu dân Đại Học Bách Khoa thuở trước). Mình hỏi Lập: Thời sinh viên ông có chữa phiếu cơm không? Lập trả lời có chứ.� (Cũng xin giải thích một chuyện về chữa phiếu cơm cho các bạn hiểu.) Vào những thập niên 70 – 80 sinh viên có phiếu cơm trong tháng, từng ngày một. Nhà ăn thu phiếu ngày xong mang đốt ở bếp than quả bàng. Anh em sinh viên thừa lúc đốt chưa cháy hết, lấy phiếu cũ dùng mực vẽ kỹ thuật. Cạo, tẩy xóa ngày tháng ra viết ngày hôm sau để lấy thêm cơm, (thường kèm theo nửa ổ bánh mì). Ăn không hết mang bánh mì ra quán đổi nước chè, thuốc lá “Sông Cầu”. �Hỏi chuyện, hóa ra mình với Lập cùng là lính “Phòng Không Không Quân”. Lập tốt nghiệp Bách Khoa – kỹ sư vô tuyến (thời đó oai lắm đấy). Lập ở trung đoàn tên lửa của sư 369 (F 369) sau chuyển vào Đà Nẵng.
Mình nói với Lập: Tôi không học Bách Khoa. Nhưng chơi với bọn bạn K 18 – K19 – K20 – K21. Nên hay vào trường ông “vẽ” phiếu cơm cho chúng nó. Bọn ấy, có mấy thằng là bạn tôi dân trường “Học Sinh Miền Nam” trường 8 – Trường 1.
Lập cười: Mấy thằng ấy tôi biết, chúng nó quậy kinh hồn.
Tối hôm đó, mình với “Quê Hương là chùm khế ngọt” đố nhau biết những bài hát trước năm 1975. Quân bảo: Ông thuộc nhạc Miền Nam cũng nhiều nhỉ? Lập nói: nhạc là nhạc, sao cứ Nam với Bắc. Quân nói: trong tương lai tôi sẽ mở quán ăn. Mình nói ngay: ông mạo hiểm! Típ người như ông mở quán là…sập tiệm. (Đúng y chang. Sao này Quân mở quán “Diều Đỏ” “Diều Vàng” gì đấy, sập Tiệm. Nhà thơ Văn Công Hùng may mắn hơn mình vì được hân hạnh tới đó để nhậu. Hình như Hùng có viết bài? Mình mà tới chắc sẽ có bài: “Lời Điếu Cho Một Cái Quán Của Thi Nhân!”. Mình nói với Văn Công Hùng như vậy.
…Thấy mấy em trẻ măng, đẹp gái chân dài, chân hơi dài cứ lượn lờ: Các anh có gọi thêm gì không? Mình nói: Tôi biết vì sao các ông thích tới quán này. Huy Đức hỏi: Sao? Mình nói: Các em ấy trẻ mà gọi mấy ông già là anh thì thằng nào chẳng thích tới…
Trong cuộc nhậu, mình nghĩ nếu không có “Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt” thì mất vui. Quân tếu táo, khôi hài một cách thông minh. Quân kể:..Hồi tôi làm đơn xin vào Thanh Niên Xung Phong lên biên giới Tây Nam. Khi khai trích ngang lý lịch có mục: ý thức chính trị… tôi ghi: ..”khi Bác Hồ mất, (phẩy) có khóc!”
Lập cười và nói: Nhậu không có nó là mất vui ông à.
Cả cuộc nhậu toàn tếu táo bố láo! Mình chẳng nhớ là nhậu với cái gì, ngoài tiếng cười vui của bè bạn…
Lập gọi Taxi. Mình theo Lập ra xe. Bọ chống gậy di chuyển rất khó nhọc. Câu cuối Lập nói với mình: Viết đi, ông cũng có khiếu hài hước đấy.
Giờ thì Lập bị bắt. Cái tin Lập bị bắt gây ra một cơn địa chấn có sức lan tỏa cực lớn, không chỉ trong giới trí thức văn nghệ sĩ trong nước, mà còn lay động tới những người hâm mộ trang Blog “”Quê Choa”” của Lập ở nước ngoài. Có rất nhiều người hỏi mình: sao lại bắt anh ấy? Mà đó là những người từ trước tới nay không hề quan tâm tới thời cuộc, chỉ lo làm ăn. Họ nói với mình: giờ không được đọc bài viết của Bọ Lập.
Mình nói: Tao cũng thấy “chua cả mắt” vì không vào được Blog “Quê Choa” như mọi khi.� Viết lại ký ức này, mình nhớ và thương Lập lắm. Lập ơi!
Sau này, nếu gặp lại Lập mình sẽ không hỏi: ông sống trong tù thế nào? Mà sẽ hỏi: ông có biết chữa phiếu cơm không?
Của một thuở sinh viên đói nghèo mà trong trẻo ấy.
P/S: Một thời gian sau, mình gặp Lập. Ngồi với Lập uống bia, mình không hỏi chuyện trong tù như thế nào. Toàn nói chuyện tếu táo tào lao.
Hôm đó, có cả nhà thơ Văn Công Hùng