Hiển thị các bài đăng có nhãn Bạn văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bạn văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Ngũ khúc về một người thầy

Nguyễn Quang Lập


1. Một trong những đáng tiếc của tôi khi nhớ về tuổi nhỏ là tôi không được học văn với thầy Phan Xuân Hải, dù tôi gần gũi với thầy từ tấm bé.

Năm ba tuổi tôi đã gặp thầy. Ấy là tết Kỷ Hợi 1959 thầy vào thăm tết nhà tôi. Tôi nhớ là vì lần đầu tiên tôi có được năm hào mừng tuổi. Ba tôi là thầy giáo già, tết nào cũng đón nhiều cô thầy. Tôi nhớ thầy cô nào cũng mừng tuổi cho tôi năm xu hoặc một hào, riêng thầy Hải mừng tuổi cho tôi tờ năm hào mới cứng. Tôi không biết năm hào to nhỏ ra sao. Khi ba thất sắc kêu lên: “Ôi thầy cho cháu nhiều quá!”, tôi đoán chừng đồng năm hào chắc to lắm. Mà to thật, mãi đến chín năm sau tôi mới có lại đồng năm hào lần thứ hai, vẫn của thầy Hải.

Tôi nhớ thầy Hải vì một chuyện khác nữa, có lẽ đây là chuyện khiến tôi nhớ thầy lâu hơn. Ngày tết thấy khách đến nhà tôi thường đứng ôm cột nhà chờ khách mừng tuổi. Con nhà nghèo ba, bốn tuổi chưa đủ tuổi mặc quần, mỗi cái áo mới đeo lấy ba ngày tết không chịu thay. Các thầy đến nhà thường chào tôi bằng cái véo chim thân thiện. Có thầy còn búng một phát đau điếc tai. Tôi rất khó chịu, sợ và ghét nữa, nhưng vẫn để yên cho các thầy búng véo để kiếm lấy năm xu, một hào. Riêng thầy Hải không véo, không búng, thầy bế tôi lên, khen tôi đẹp trai và cho tôi năm hào. Sự kiện đầu đời to lớn thế làm sao tôi quên được.

2. Nhà tôi năm Kỷ Hợi 1959 ở Cầu Phôốc, năm Quý Mão 1963 dời về góc sân vận động sát với con hói chảy ra sông Gianh, phía sau trường cấp 2. Tôi sáu tuổi, về nhà mới chạy loăng quăng và phát hiện ra nhà thầy Hải chỉ cách nhà tôi chừng 100m. Thầy Hải dắt tôi vào giới thiệu với cô Kỳ, thằng Dương ba tuổi và con Thuỷ gần hai tuổi. Lần đầu tôi thấy con nít mà cũng mặc quần, đó là con thầỳ Hải. Thằng Dương còn đi đôi dày ủng nhựa màu trắng, nó trắng trẻo cao ráo lại đi đôi ủng trắng, giống ông tây con, sang quá là sang. Nhà thầy Hải cũng sang quá là sang. Ngôi nhà tranh vách đất ấy ngày nay chỉ là nhà nghèo, chỉ đỡ nhếch nhác hơn nhà tôi. Nhưng dưới cái nhìn thằng bé sáu tuổi con nhà nghèo thời ấy, nó thật giàu sang. Phòng khách đầy tranh và hoa, tranh của thầy Hải, hoa tươi hoa giấy của cô Kỳ. Nền nhà chỉ là nền đất nhưng sạch và láng bóng như nền xi măng, buồng ngủ buông một mành tre mỏng như giấy, hiên sau treo một lồng chim vẹt, bàn ăn đặt một bình hoa tươi… toàn những thứ nhà giàu mới có. Mạ tôi nói, nhà thầy Hải giàu vì thầy vẽ tranh truyền thần, mỗi bức bốn, năm đồng, khắp huyện người ta đua nhau đặt. Thầy còn vẽ tranh Bác Hồ nữa. Đắt lắm. Tranh Bác Hồ đặt trên lầu, ngay cửa ra vào Bách Hoá Tổng Hợp, huyện trả 30 đồng đâý. Tôi được đi chơi với con nhà giàu là thằng Dương và con Thuỷ. Con Bích lúc này đang ẵm ngửa. Cô Kỳ giao nhiệm vụ giữ em, dắt thằng Dương con Thuỷ đi chơi. Chúng tôi thường ra bờ hói sau nhà bắt rạm bè và còng gió. Chẳng bắt được, chỉ đuổi theo chúng cho vui thôi. Bờ hói cách nhà có một đoạn, khi đi không sao, quay về con Thuỷ thường nhõng nhẽo bắt tôi cõng. Dù không thích nhưng tôi vẫn vui vẻ cõng nó về để báo cáo kết quả “giữ em” với cô Kỳ, thế nào cũng được cô thưởng cho một món gì đó thật ngon, đồ ăn “nhà giàu” toàn thứ ngon.

Hôm ấy, cũng là hôm cuối cùng ngày bé tôi đến nhà thầy Hải, tôi cõng con Thuỷ chạy thẳng vào nhà. Chẳng may vấp ngã làm đổ giá vẽ tranh truyền thần, quờ tay làm đổ luôn lọ mực màu, rơi đúng tranh truyền thần thầy Hải đang vẽ dở. Bức truyền thần nhem nhuốc mực màu. Thầy Hải từ trong nhà chạy ra, đứng lặng ngắt mặt tái đi. Bốn mươi năm sau thầy mới kể, đó là tranh truyền thần một ông già vừa mất, con ông dục như cháy nhà, thầy đã hẹn một giờ chiều đến lấy. Thầy cúi mặt vào bức tranh, hình như cố nghĩ cách cứu vãn, ngước lên thấy bộ mặt dúm dó của tôi thầy mỉm cười, nói, không sao đâu, để thầy vẽ lại. Cô Kỳ làm như không có gì xảy ra, vẫn vui vẻ nói cười, cầm cái bánh trung thu đưa cho, tôi không nhận, chạy ù đi. Từ đó không dám bén mảng đến nhà thầy nữa.

Thỉnh thoảng thầy vẫn sang nhà tôi uống rượu với ba. Tôi núp né. Cô Kỳ vẫn sang nhà khi cho tô canh khi cho mớ rau, tôi vẫn núp né. Cô tìm, vui vẻ túm tay hỏi, sao không sang nhà cô chơi? Tôi chẳng biết nói sao. Làm hỏng một bức tranh “truyền như thần” với đứa trẻ ba tuổi tội ấy quá to.

3. Năm 1965 mùi chiến tranh đã dậy khắp Thị trấn, người ta đua nhau làm hầm hào. Thầy Hải làm một cái hầm chữ A thật to, cả nhà thầy có thể ngủ trong đó. Nhà tôi không có hầm, ba đi học chính trị ở Hà Nội, mạ đi theo cơ quan sơ tán ở Quảng Liên. Mấy chị em cơm cháo nuôi nhau, suốt ngày chỉ nghĩ mỗi chuyện ăn, hơi sức đâu nghĩ chuyện đào hầm.

Trận bom Mỹ đầu tiên vào khoảng cuối tháng sáu thì phải, 8 chiếc AD6 thi nhau thả bom xuống Long Thị và Long Hoà. Tôi đang chơi bờ hói. Bom nổ cả chùm xuống trường cấp 2, tôi tụt xuống hói, đứng ôm gốc bụi cây bên bờ. Giá tôi chạy sang hầm nhà thầy Hải sẽ chẳng việc gì nhưng tôi vẫn né nhà thầy. Nhiều người ào ào lội qua hói. Tôi thấy ông Năng đánh kẻng trường cấp 2, bọ thằng Toàn, đang đội rổ áo quần lội qua hói. Ông Năng rất cao, ra giữa hói sâu vẫn cố nhô được cái đầu đội rổ áo quân lên khỏi mặt nước. Ông không sợ chết, chỉ sợ ướt rổ áo quần, hi hi. Một quả bom nổ gần bờ thổi bay rổ áo quần. Ông Năng đứng giữa hói khóc hu hu. Tôi ôm gốc bụi cây đứng nhìn ông Năng khóc. Một khối đất đập xuống lưng tôi đẩy tôi chìm nghỉm xuống hói, một quả bom khác đẩy tôi lên, văng ra giữa hói. Tự nhiên tôi biết bơi ngửa và bơi sang được bờ bên kia. May thế không biết. Tôi chạy sang đồng khoai Xóm Cầu, núp trong bụi cây rưới nhìn máy bay thả bom Ba Đồn thêm một giờ nữa mới ngưng. Máy bay đi rồi dân Ba Đồn không dám về, sợ nó quành trở lại. Khoảng ba giờ chiều tôi đang moi trộm khoai sống, chợt một bàn tay vỗ nhẹ lưng, ngước lên, là thầy Hải. Thầy ôm chặt lấy tôi, nói, thầy tưởng bom vùi em rồi!

Mới biết khi tôi ở bờ hói, thầy Hải chạy sang nhà tôi, thầy biết ba mạ tôi đi vắng, anh Huy chị Nghĩa đi làm xa, để mấy đứa con nít ở nhà, hầm hố không có. Thầy thu gom anh Tường, anh Thắng đưa sang hầm nhà thầy. Thằng Vinh theo mạ lên Quảng Liên, còn tôi không thấy đâu. Mọi người tưởng tôi đã bị bom vùi.

Thầy Hải lầm lũi cõng tôi một mạch từ Xóm Cầu ra Lòi Dài là nơi dân Thị trấn vừa kéo nhau ra đấy sau trận bom khủng khiếp. Sau lưng to bè một vòng tay tôi không xuể, thốt nhiên tôi thấy thầy gần gũi vô cùng, gần gũi như một người cha.

4. Chiến tranh đã đẩy hai nhà ra rất xa. Trong suốt cuộc chiến tranh chưa một lần tôi biết đến nhà thầy. Dầu vậy thầy vẫn rất gần gũi. Năm học lớp ba, năm 1967, bài tập làm văn học kì một tôi được 9,5 điểm. Đó là điểm văn cao nhất của tôi trong suốt thời học phổ thông. “Hãy tả con gà chống Mỹ của em”, đề do cụm (3 xã) ra. Cô Ngoan nói điểm văn của tôi cao nhất cụm. Tôi sướng âm ỉ suốt tuần.

Một chiều tôi bắt rạm về. Thấy tôi ở ngõ mạ đã kêu to, thầy Hải vừa lên đây tìm mi! Tôi giật thót, sợ có chuyện gì. Mạ vui vẻ kể. Thầy Hải lên phòng giáo dục họp giáo viên dạy giỏi cấp 2, nghe mấy thầy cô dạy giỏi cấp một khen “Thằng cu con thầy Đạng có bài văn hay lắm”, thầy quyết tìm cho ra bài văn, đọc xong thầy lên đây thưởng cho mi năm hào. Thầy chờ mi không được, về rồi. Tôi cầm năm hào mới cứng vân vê, hỏi, thầy có nói chi không mạ? Mạ cười hả hê, nói, thầy nói với mạ, “Em mà chấm thì em cho bài văn mười chín điểm rưỡi.”, he he thầy nói quá, văn chi lại có thứ văn mười chín điểm rưỡi. Tôi thêm một tuần âm ỉ sướng.

Cuối năm lớp 3, thi học kỳ hai môn văn đề thi “Trường em”, tôi quyết viết thật hay cho được 10 điểm, hy vọng kiếm được một đồng từ thầy Hải. Kết quả chỉ có 7 điểm bọ. Thầy cô trong trường chẳng ai khen cũng chẳng ai chê. Tôi hơi buồn một chút nhưng cho qua rất nhanh. Sang năm lớp 4 xuống Pháp Kệ thi học sinh giỏi, đang đứng lớ ngớ cổng trường bỗng thầy Hải đứng ngay trước mặt. Thầy coi thi bên khu học sinh giỏi cấp 2, biết tôi thi ở đây thầy chạỵ sang tìm. Hỏi chuyện ba mạ đôi câu thầy xoay sang hỏi, em biết vì sao bài văn học kỳ hai được có bảy điểm không? Tôi trợn mắt há mồm, té ra thầy lại tìm đọc bài văn của tôi. Thầy nói, em viết được, câu kéo đâu ra đấy, tu từ giỏi, có điều không thật bằng bài trước. Văn muốn hay thì phải thật. Tôi cúi đầu xấu hổ, quả thật bài đó tôi “ khua môi múa mép” hơi bị nhiều. Thầy ôm đầu tôi, nói, đừng buồn, cố lên, khó mấy cũng đừng bỏ cuộc.” Rồi thầy vội vã quay về khu học sinh giỏi cấp 2.

Thầy không cho tôi hào nào, chỉ cho hai lời khuyên ấy. Tôi mang lời khuyên thầy Hải vào cuộc thi, đề thi “Em hay tả cô dân quân quê em”, đề thì quá khó vì tôi chẳng biết dân quân cũng chẳng thấy cô dân quân nào, chỉ nghe nói. Nhớ lấy thầy dặn “Khó mấy cũng đừng bỏ cuộc.” tôi đã cố làm xong. Bài chỉ đạt 6,5 điểm nhưng chiếm giải nhì huyện. Nếu không có lời khuyên “Văn muốn hay thì phải thật”, tôi lại “khua môi múa mép” chắc giải rút cũng không có.

5. Bốn mươi năm sau tôi trở thành bạn văn, đồng nghiệp của thâỳ. Thầy có chục vở kịch, tôi có chục cuốn sách. Khi về quê trưa nào tôi cũng đến nhà thầy ngủ trưa và tán gẫu vì nhà thầy gần con hói rất mát. Thầy chẳng nói gì về chuyện văn chương, viết cái gì viết thế nào. Tôi cũng thế. Thầy trò chỉ nhậu và nói chuyện đời, xong rồi tôi viết văn thầy viết kịch, gặp nhau cũng chẳng khoe nhau có cái này được cái kia.

Cho đến một ngày tôi bị tai nạn, chấn thương sọ não, liệt nửa người, vào năm 2001. Thầy ra Hà Nội thăm tôi, ngồi rất lâu, chỉ nói một câu: Mình đọc sách Lập rồi, toàn bộ văn Lập có thể tóm một chữ, là chữ THẬT. Tôi kể lại lời khuyên của thầy năm 1968 ở Pháp Kệ, “Văn muốn hay thì phải thật”. Thầy trố mắt lên, hỏi, mình có khuyên Lập thế à? Rồi thầy ngồi lặng đi, cảm động. Trước khi ra về thầy nắm tay tôi thật chặt, nói, cố lên nhé, khó mấy cũng đừng bỏ cuộc. Tôi ứa nước mắt. Thì ra cả đời văn tôi chỉ làm theo hai lời khuyên của thầy Hải.

Củ Chi ngày 13/11/2021
NQL



Đơn Dương, kiếp sau nhé!




 Chiều nay Hồng Ánh gọi điện cho mình, nói anh Đơn Dương mất rồi. Mình lặng đi mấy giây rồi hỏi, mất làm sao, vì sao mất? Ánh nói anh Dương bị tai biến,  ảnh kêu đau đầu rồi lịm đi. Đưa bệnh viện cấp cứu, bệnh viện mổ xong, ảnh đã tỉnh. Nhưng chỉ vài giờ sau thì hôn mê, bệnh viện bó tay.

Lục bình hay Việt Cộng?







Nhà mình chỉ là căn hộ tầng 5 chung cư HAGL, chẳng có vẹo gì mà khoe. Được cái nó ở sát sông Sài Gòn, lại có cái view khá đẹp. Chung cư có ba mặt sông thuộc loại hiếm ở Sài Gòn a nha, ngoảnh mặt hướng nào cũng thấy sông, mát cực.

Chữ tài ở cõi tạm






Điện ảnh Việt Nam những năm 90, nam diễn viên sáng giá nhất chỉ có hai người, phía Nam có Đơn Dương, phía Bắc có Hồng Sơn. Chỉ có hai người, không hơn. Và cả hai đều có số phận thật buồn. Chuyện Đơn Dương nói sau, giờ xin nói chuyện Hồng Sơn trước, vì anh vừa mới mất hôm 13/8/2011 vừa rồi.

Một người vì văn Việt


Một vài người bạn gửi lời chúc mừng cuốn KCVR đã xuất bản ở Mỹ lại còn xuất bản ở EU, “oách quá”, “ Ăn dày quá đấy!”  Thực thì không phải vậy. Không in ở trong nước đành in ở Mỹ thôi chứ in ở Mỹ rất khó bán. Người Việt tại Mỹ, già không thích đọc văn Việt, chỉ thích đọc những sách thiên về chính trị xã hội như ‘Bên thắng cuộc”, “ Đèn cù”;  trẻ thì không biết tiếng Việt, và thực thì cũng như già đều xem thường văn Việt quốc nội. Éo đọc.

Nguyễn Văn Tý, ngồi thức với xa xăm


Kỉ niệm 35 Ngày thống nhất, cũng kỉ niệm luôn ngày sinh nhật của mình he he, mình ngồi ở quán Đo Đo với mấy anh chị em TNXP đồng đội năm xưa của Nguyễn Nhật Ánh, uống rượu và hát liên miên bài này sang bài khác. Mấy cô văn công năm xưa nay đã U50 rồi mà giọng hát vẫn trong vắt trẻ trung, mắt lúng la lúng liếng thật dễ thương. 

Thích nhất hai bài Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao và Dư âm của Nguyễn Văn Tý, mình bắt mấy cô hát đi hát lại hoài. Anh Nhượng (Nguyễn Khắc Nhượng, nguyên TTK toà soạn báo Thanh Niên) ngồi cạnh mình, ghé tai mình nói, cụ Tý bây giờ sống khổ lắm. Nghe biết vậy chứ cũng chẳng hỏi gì thêm. 

Mình không quen Nguyễn Văn Tý, duy nhất một lần thấy cụ ở Đồng Hới, hình như năm 1970 thì phải. Lúc đó cụ đã hơn 45 tuổi rồi mà vẫn rất phong độ, đẹp trai cực, miệng rộng môi tươi, cười có lúm đồng tiền sâu hoắm. Hồi này cụ đã nổi tiếng lắm rồi, dân Quảng Bình quên ai thì quên chứ Hoàng Vân và Nguyễn Văn Tý thì không bao giờ quên. 

Khi cụ từ hội trường tỉnh uỷ đi ra, bao nhiêu cô nhìn cụ với những cái nhìn ngưỡng mộ thèm khát bốc cháy như muốn ăn tươi nuốt sống cụ. Bảo đảm chỉ cần cụ vẫy khẽ cái là có cả chục cô chạy theo liền. Cụ nổi tiếng đào hoa, nhạc sĩ chuyên trị phụ nữ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, những bài hát về phụ nữ của cụ đều hay. Tất nhiên vô thiên lủng phụ nữ say mê cụ, khỏi phải nói. 

Bài Dư âm là kết quả của cuộc tán gái bất thành của Nguyễn Văn Tý, hi hi. Năm 1950 khi cụ là đoàn trưởng đoàn văn công sư đoàn 304, cụ đến tán cô chị 21 tuổi nhưng cô em 16 tuổi lại mê luôn cụ. Cụ cũng chết mê chết mệt cô em, thả luôn cô chị. Gia đình tức lắm, cấm cung cô em, cấm cửa không cụ cho được đến nhà. Cái gì bí tất sẽ phát, bài Dư âm đã rời đời trong một đêm điên cuồng vì yêu của cụ. Chuyện này mình nghe qua radio trong taxi cách đây mấy năm rồi. 

Hôm nay sinh nhật mình, Đỗ Trung Quân mang đến cho chai rượu, anh ngồi thừ, nói, cụ Tý vừa gọi điện cho tôi, buồn quá. Mình hỏi sao, Quân nói, từ ngày bị tai biến liệt nửa người, cụ sống một mình khổ nghèo buồn tủi, tội lắm. Cụ gọi điện cho tôi, nói Quân ơi mai ba mươi tháng tư có chương trình văn nghệ nào vui cho mình đi xem với. Cụ có cả một Hội nhạc sĩ, một tấn bạn bè nhạc sĩ ca sĩ lại đi hỏi mình, nghĩ cái sự đời mà chán. 

Té ra Nguyễn Văn Tý ở rất gần chỗ mình, đi bộ chừng chục phút là đến nhà cụ. Mình gõ cửa, từ chỗ cụ nằm ra cửa không đầy bốn mét mà cụ phải đi chừng năm phút, đúng hơn cụ lết chứ không phải đi, toàn thân run lẩy bẩy, lúc nào cũng có cảm tưởng cụ sắp đổ xuống sàn. Duy nhất gương mặt đẹp lão vẫn còn tươi tỉnh còn tất cả đều tàn tạ, cả thân xác lẫn căn hộ ám khói nơi cụ sống. 

Cụ chẳng biết mình là ai, có lẽ cụ chẳng đọc một chữ nào của mình, nhắc tên Nguyễn Quang Lập hai ba lần cụ chỉ nhăn răng cười trừ, nhưng mà cụ vui, vui lắm. Cụ lập cà lập cập đòi pha trà uống nước, mình ngăn mãi không được. Cụ nhìn quanh quất chép miệng, nói, có lon bia mình uống mất rồi, không có mời Lập. Chỉ chừng ấy thôi mình biết cụ thèm khách đến nhường nào. 

Mình hỏi bạn bè có hay đến thăm anh không (giới văn nghệ ai lớn tuổi hơn mình đều gọi bằng anh, không chú bác gì hết), cụ cười nhẹ khẽ lắc đầu, nói chỉ còn một thằng thôi, thằng này tháng nào nó cũng đến thăm, cho hai trăm ngàn, tháng nào nó bận không đến thì tháng sau nó cho bù bốn trăm. 

Mình ngước lên bức tường thấy bức ảnh cụ chụp chung với nhạc sĩ đại ca được phóng to treo rất trang trọng. Mình biết nhạc sĩ đại ca là bạn chí thiết của cụ từ hồi chống Pháp, hơn nửa thế kỉ chia ly nay cả hai đã gặp nhau, sống cùng thành phố. Trong khi cụ đã tàn tạ, đếm ngày xuống lỗ thì nhạc sĩ đại ca vẫn rất hoành tráng, tiền nhiều như quân Nguyên. 

Mình chỉ tấm ảnh cười cười, nói, Đại ca không đến thăm anh à? Cụ cười hiền lành, nói, thằng đó thì tính làm gì. Thời kháng Pháp nó ốm nặng, nằm ở nhà mình cả tháng. Mẹ mình có đàn gà 12 con, lần lượt thịt từng con một nấu cháo cho nó ăn, ăn đến con thứ 12 nó ngước lên hỏi mẹ mình một câu lạnh tanh, nói, đây là con cuối cùng à? Thế thôi. 

Cụ kể, giọng nửa đùa nửa thật, (tới giờ mìn cũng chẳng biết thật hay không nữa), nói, tưởng đến chết nó cũng không thể quên chuyện đó, chẳng ngờ anh em gặp nhau, nhắc đến chuyện cũ nó không hề nhớ gì, ngơ ngác hỏi, gà nào nhỉ gà nào nhỉ? Đỗ Trung Quân ngồi cạnh, nói, chú có biết Đại ca viết hồi kí nhắc đến chú thế nào không? Cụ lắc đầu nói, không. Quân nói, Đại ca viết nguyên xi thế này nhé: “Tôi nhớ ngày đó trong văn công có một anh cán bộ tên là Tý, có làm nhạc..” Chú lừng danh với bài Dư âm trước cả khi gặp Đại ca, đúng không? Bạn bè thân thiết mà nói vậy là không có được. 

Cụ cười khì khì, nói, nó còn nhắc tên Tý là may lắm rồi. Rồi cụ ngước nhìn ra cửa sổ khẽ thở dài, nói, bạn bè mỗi đứa một nết, trách nhau thì trách cả ngày. Mình nhìn cụ thấy thương thương, chợt nhớ chuyện Quân kể năm ngoái chương trình âm nhạc của Đại ca được làm rất hoành tráng, vé bán hai triệu đồng một cặp, không được Đại ca cho vào danh sách khách mời nhưng cụ vẫn đến. Có người nói, người ta đã không mời, anh đến làm gì. Cụ nói, chương trình âm nhạc của bạn tôi tại sao tôi không đến! 

Cụ đứng rúm ró ở cửa nhà hát không biết làm sao có được cái vé, may gặp Đỗ Trung Quân, anh kéo cụ vào, nói, cháu cũng không có vé nhưng cháu xin vào được. Quân xin bảo vệ cho vào, bố trí cụ ngồi một ghế trống, nói, chú cứ ngồi đây, nếu có ai đến đòi ghế chú cứ dơ tay lên là cháu vọt tới liền. Cụ ngồi thắc thỏm không yên, hễ có ai tới gần là cụ nhỏm dậy lúng ta lúng túng. Trong khi Đại ca bận rộn bắt tay bắt chân quan khách thì cụ ngồi lo bị đuổi ra khỏi ghế. 

Một cặp vợ chồng trẻ đến, nói, chú ngồi lộn ghế tụi cháu rồi. Mặt cụ tái nhợt, nói, vâng vâng... rồi ngồi đực mặt không biết làm gì. Đỗ Trung Qúân vọt đến, nói, đây là nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, cụ không có vé. Cặp vợ chồng trẻ mắt trố miệng há, nói, vậy mời chú ngồi, vợ chồng cháu ra sau đứng cũng được, nước mắt cụ dàn dụa, nói, cảm ơn cảm ơn... may quá may quá… 

Quân nhắc lại chuyện này, nói, đó... chú thấy chưa, đời vẫn yêu chú lắm. Cụ mỉm cười lặng lẽ, cất giọng run run hát bài Ru người trăm năm, lời thơ của Trần Mạnh Hảo-"Ngủ đi người của anh ơi. Xin nhờ làn gió về nơi em nằm. Anh ngồi thức với xa xăm. Ðến em phải vượt hàng trăm tinh cầu… Cách xa như đất với trời. Ðêm đêm anh lặng ru người trăm năm. "

Đang hát cụ chợt dừng lại ngồi yên, nước mắt rân rấn. Mình hỏi, sao thế anh? Cụ lặng lẽ nhìn mình, nói tự nhiên nhớ bạn, bạn bè mình nhiều lắm. 

Sài Gòn Tháng 10-2012


Nhớ Đoàn Anh Thắng

Chân dung
Đem mấy đứa con đi dự Liên hoan sân khấu thể nghiệm toàn quốc, cho chúng nó làm quen dần với sân khấu nước nhà, xem vở Sang sông, kịch bản dở ẹc, chẳng thấy kịch đâu, các nhân vật chẳng hiểu ở đâu ra, cứ thay nhau triết lý, toàn những triết lý vừa nhàm vừa cũ rích, chán ốm.
 May thằng Anh Tú khéo bày trò, dù chưa thoát hẳn cái bóng của thầy nó nhưng mà khá, có trò nó làm còn sáng sủa hơn thầy nó nhiều, thế là mừng. Ở Hà Nội, sau Xuân Huyền, Doãn Hoàng Giang, Lê Hùng chắc chắn đến Anh Tú, nó đã trên bốn chục rồi còn trẻ mỏ gì nữa.

Nhớ chị Bội Trâm


1.    Chân dung


Bữa trước mình ra Huế, anh Ngô Minh nhắc mình, nói, mi mần chi thì mần, cố sắp xếp thời gian viếng mộ anh Quán chị Trâm. Anh Ngô Minh nhắc hơi thừa, mình đã viếng mộ anh Quán chị Trâm cách đó mấy ngày, trước khi bù khú với anh em văn nghệ Huế.
Nhờ sáng kiến của Ngô Minh, những người yêu mến Phùng Quán đã nhiệt tình hưởng ứng, khu mộ vợ chồng nhà thơ Phùng Quán đã được cất lên phía tây làng Thủy Dương (quê Phùng Quán) phía Nam thành phố Huế, đã trở thành một địa chỉ văn hóa của thành phố Huế cho khách thập phương, thật tuyệt vời.

Đỗ Chu, ông chủ trại văn


Chân dung
Tối nay vào blog Trần Nhương thấy mấy cái ảnh Đỗ Chu, không ngờ anh đẹp lão nhanh quá. Mới đó đã chục năm không gặp anh, quay đi quay lại anh đã gần bảy chục tuổi rồi, nhanh thật.
            Mình quen anh từ năm 1988, khi đó anh phụ trách Trại viết văn Suối Hoa. Đọc văn anh từ thuở bé, phục lắm. Lại nghe các anh lớp trên khen Đỗ Chu thiên kinh vạn quyển, đọc anh thấy đó là thứ văn “ mật ngọt chết ruồi” lại càng phục. Nghe anh phụ trách trại viết văn vừa mừng vừa sợ, mừng vì gặp được ông thầy giỏi, sợ cũng vì thế.

Trần tiến, kiếp du ca


Chân dung
Hôm qua mình đến dự lễ 100 năm ngày sinh Lưu Trọng Lư gặp Trần Tiến, chưa kịp nói chuyện gì anh đã ghé tai mình nói, công tác nhậu của mày dạo này thế nào? Mình cười, nói, yếu kém đi rất nhiều nhưng vẫn còn chơi được. Anh đập đùi vui vẻ, nói, thế là hay rồi, xong cuộc này về nhà Nguyễn Mạnh Tuấn nhậu nhé. Tao hẹn với nó rồi. Mình nói, anh cũng quen cụ Lưu Trọng Lư à? Anh nói, chứ sao... tao có một chương trình thơ Lưu Trọng Lư nhạc Trần Tiến rất ấn tượng, đến chết cũng không quên.

            Mình đến dự lễ vì tình đồng hương chứ không hề quen biết cụ. Nhà mình với nhà cụ đối diện nhau qua sông Gianh. Nếu vạch một đường vuông góc với sông Gianh từ nhà cụ thì đường đó băng qua nhà mình ở bên kia bờ. Cụ rời nhà đi làm cách mạng từ khi mình chưa đẻ làm sao mình biết đựợc cụ. Mình rất tự hào được là đồng hương của cụ, dù cụ ở huyện Bố Trạch nhưng lúc nào mình cũng coi cụ cùng làng cùng xóm với mình.  Anh Lưu Trọng Văn, con trai cụ, gọi điện cho mình, nói, chết quá mày ạ, cuốn tuyển tập Lưu Trong Lư in lộn huyện Bố Trạch quê tao ra huyện Quảng trạch quê mày, dân Bố Trạch đang phản đối ầm ầm. Mình nhăn răng cười he he, nói, rứa thì dân Quảng Trạch lời to.

Nhó Hải Kỳ


Chân dung

Trong đời sống văn nghệ,  có những người rất nổi tiếng nhưng không ai biết họ nổi tiếng vì cái gì, vì sao mà nổi tiếng. Chỉ biết họ rất nổi tiếng, còn bảo tác phẩm họ đâu thì chẳng ai biết. Anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) vẫn hay ví von, nói mấy người đó như là mấy cục thịt thừa ngộ nghĩnh, ai nhìn thấy đều nhớ ngay, có khi nhớ suốt đời dù biết nó chẳng có giá trị gì.

Ngược lại, có những người tiếng tăm chẳng có bao nhiêu nhưng người trong nghề rất nể phục, ai từng biết tác phẩm của họ đều đinh ninh đó là người thực tài. Hải Kỳ thuộc loại này. Nếu hỏi 10 người Hải Kỳ là ai, cầm chắc 9 người không biết, người còn lại may ra mới biết anh là nhà thơ. Nếu hỏi kĩ hơn Hải Kỳ có tập thơ nào, cầm chắc người đó cũng chẳng nhớ.

Anh Hờ Hờ


Chân dung

Sáng nay hết tiền, lò dò ra cột rút tiền, vừa đẩy cửa cabin ATM thì gặp ngay một người đàn bà chừng năm mươi tuổi. Chị nhìn mình cười cười, nói, chào nhà văn rồi cúi mặt bỏ đi. Nhìn mặt hơi quen quen nhưng không nhớ ra là ai, nghĩ bụng chắc là một blogger nào đó. Đỗ Trung Quân vẫn hay trêu mình, bác Lập có cả một trung đoàn fans hâm mộ tiền mãn kinh, đi đâu cũng gặp, ngồi đâu cũng gặp. Hi hi, nghĩ bụng chắc chị này cũng vậy. Về tới nhà mới nhớ ra đó là vợ anh Hờ Hờ. Ủa, vợ chồng anh Hờ Hờ vào Sài Gòn khi nào nhỉ?

Cu Vinh


Chân dung
Nhà mình có tám anh em, cu Vinh (Nguyễn Quang Vinh) là con út.  Cái tên của nó vốn là tên của mình. Lúc mình mới sinh, ba mình đặt tên Vinh, Nguyễn Quang Vinh, hình như để chào mừng Chiến thắng Điện Biên thì phải. Sau, thấy mình ốm yếu quá, ba mạ mình “bán” cho thầy. Ông thầy đổi tên Vinh ra tên Lập, ý là tự lập, từ đó mới có tên Nguyễn Quang Lập. Cái tên Nguyễn Quang Vinh thuộc phần thằng con út, là nó.

Tô Nhuận Vĩ, một chút chấm than và chấm lửng


Chân dung

Mình biết tên tuổi Tô Nhuận Vĩ từ thời mình còn học cấp III. Hồi đó tối nào mình cũng ngồi dưới loa truyền thanh của làng nghe đài, mấy chương trình Kể chuyện cảnh giác, Tiếng thơ, Đọc truyện đêm khuya là không thể bỏ qua được.  Hai tập tiểu thuyết Dòng sông phẳng lặng của anh Vĩ  được Đài  đọc rền rĩ  ba tháng trời trong chương trình Đọc truyện đêm khuya. Hồi đó cứ đến giờ đọc truyện Dòng sông phẳng lặng  là có đến cả trăm người, cả bộ đội lẫn người làng Đông, ngồi quanh gốc cây vông đồng giữa làng, nơi có mắc cái loa truyền thanh. 

Đến hết tập 1 thì có đến mấy trăm người, ngồi tràn ra kín đặc ngã ba đường làng. Ai nấy ngồi bó gối, ngửa cổ nhìn loa.  Đến đoạn hay, mọi người vỗ tay ầm ầm, xuýt xoa chậc lưỡi râm ran. Có anh bộ đội khoe đã gặp anh Vĩ hồi ở rừng, mọi người nhìn anh mắt tròn mắt dẹt. Anh Vĩ nổi tiếng như cồn, đi đâu cũng nghe người ta nhắc đến Tô nhuận Vĩ và Dòng sông phẳng lặng. Nhà văn được đông đảo công chúng ngưỡng mộ như anh Vĩ không nhiều, có thể nói rất hiếm, thời nào cũng hiếm.

Ông bán vé về tuổi thơ


Chân dung
Tối qua nhậu về, mở mobile thấy tin nhắn của Ánh (Nguyễn Nhật Ánh) tới từ lúc nào: “Đang đọc lại bài Bạn bè một thuở giờ đâu tá của Lập, thấy chính xác đến mức rờn rợn”, tự nhiên sực nhớ đã lâu lắm rồi mình chưa gặp Ánh.

Mình biết Ánh, đọc thơ nó từ năm 1980, nhưng mãi đến năm 1998, khi nó viết cho Kim Đồng bộ Kính vạn hoa thì mình mới gặp, từ đó chơi với nhau cho đến bây giờ. Ánh giống mình, làm thơ từ năm 13 tuổi, đến năm 1984 mới chuyển sang viết văn xuôi. Thoạt kỳ thủy nó lấy bút danh: Hoài Mộng Diễm Thư, he he sến chảy nước, ý là mơ có những trang văn đẹp, ặc ặc. May có Nguyễn Văn Bổn, tức anh Tần Hoài Dạ Vũ, nó mới rũ sến đứng dậy sáng lòa, hi hi… Anh Bổn nói tao tên xấu mới bịa ra cái bút danh dài loằng ngoằng vậy chớ, cái tên Nguyễn Nhật Ánh hay bỏ bà, Hoài Mộng hoài meo, Diễm Thư diễm theo làm cái dzầy!  Từ đó nó mới chịu lấy bút danh tên thật.

Ông ăn gan trời


Chân trời
Mình quen Trần Chấn Uy từ năm 1988, thời nó võ vẽ làm thơ, mình võ vẽ viết kịch. Sở Văn hóa Phú Khánh (cũ) mở trại sáng tác kịch bản sân khấu, mình được mời tham dự, lần đầu mình biết Nha Trang, biết Đỗ Kim Cuông, Hoàng Nhật Tuyên, Đặng Minh Châu, Phạm Dũng và  nó. Lâu ngày quá không nhớ nhà nó ở  phố nào, chỉ nhớ đó là dãy nhà cấp 4 xập xệ, khu tập thể giáo viên trường Cao đẳng sư phạm, nhà nó chừng 20 chục mét chật ních, tối thui. Mình nhớ mãi cái bóng đèn tròn treo lủng lẳng đỏ đòng độc, lúc nào cũng ở tình trạng sắp tắt. Có ai xô cửa mạnh vào nhà là nó tắt phụt, thằng Uy lấy cán chổi đụng khẽ, nó lại sáng.

Mai Văn Hoan say


Chân dung

Mình quen Mai Văn Hoan từ năm 1980, hình như vào cuối tháng 8 thì phải, khi đó mình vừa tốt nghiệp Bách Khoa, nhảy tàu buôn chè từ Vĩnh Phú vô Huế, vẫn thường tới ngủ lại nhà thầy Lâm, thầy giáo dạy văn lớp 10, người cùng làng với mình.  Hồi đó đói lắm, được thầy cho ngủ nhờ là may lắm rồi, không dám ăn uống. Đến bữa mình thường vẫn tránh đi, nói phét người này mời cơm người kia mời rượu rồi tót ra chợ Bến Ngự mua cân bún, vào quán rượu nhỏ cạnh đấy, quán này bán đồ mồi xì quách nên có nước xáo. Mua bát nước xáo trộn cân bún ăn mới no được, sức trẻ nếu ăn bùn bò Huế phải ba bát, tiêu pha sang thế không dám.

Gã ăn mày thi sĩ

Chân dung

Hè năm 2002, mình đến Hội văn nghệ Quảng Bình thăm cái Huế, thủ quĩ- văn thư của Hội. Hồi ở Huế, nó làm thủ quĩ- văn thư của Hội văn nghệ Bình Trị Thiên, anh em đồng hương đồng khói  rất quí mến nhau, coi nhau như anh em. Khi nào nhậu kẹt tiền mình đều a lô cho nó, trăm lần như một nó đều lén lấy tiền Hội đem ra cho mình mượn. Quán rựợu chị Phước phía sau Hội, mình nhậu kí nợ ở đó thường xuyên, lâu lâu không thấy mình trả nợ, chị Phước chẳng thèm hỏi mình, cứ hỏi cái Huế là nó đưa liền. Anh em chí thiết như thế nên khi nào về Đồng Hới, người đầu tiên mình tới thăm là nó. Hôm đó mình đến Hội Văn nghệ Quảng Bình, cái Huế đang bận đánh máy công văn, nói anh ngồi đó chờ em chút.

Nhớ Thu Bồn


Chân dung

Thời sinh viên mình làm thơ, vẫn thường lai vãng mấy tờ văn nghệ ở Hà Nội, quen hết lượt các nhà văn lớp trước, riêng Thu Bồn là mình không dám quen.  Đứng xa xa thấy anh to đen như con gấu là sợ, chưa khi nào dám đến gần. Ba lần mình thấy Thu Bồn thì cả ba lần anh đều trâm ngâm đi đi lại lại trước sân, mặt mày nghĩ ngợi rất lung như đang làm thơ vậy, muốn chào anh một tiếng nhưng đành tắc lưỡi đi qua. Về nhà lại tiếc không được nói chuyện với Thu Bồn, nhà thơ mình ngưỡng mộ từ bé.