Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng

NHẬU NHẸ BA MIỀN



Dân viết lách thường hay tụ bạ nhậu nhẹt, phần vì ham vui, rời khỏi bàn làm việc, sau khi một mình chống chọi với “pháp trường trắng”, đa phần đều vì muốn tìm kiếm bạn bè giải stress; phần vì nhu cầu tìm kiếm thông tin, nhặt nhạnh tư liệu sống quanh bàn nhậu. Đôi khi nghe lỏm được nhiều ý tưởng cực hay, nhiều đề tài hấp dẫn bạn bè nói ra. Bây giờ nhậu nhẹt ba miến na ná nhau, ngày xưa khác nhau lắm. Sài Gòn sôi động, đời sống chảy xiết, dân nhậu Sài Gòn, là nói cánh viết lách, sáng dậy sớm hẹn nhau đi ăn sáng cà phê nói chuyện công việc, rồi cắm cổ làm việc cho đến chiều tối xong việc mới nhậu nhét tới số, có khi kéo dài tới khuya.

Nhậu nhẹt ra nhậu nhẹt, mọi người quẳng hết việc, hát hò chọc quê chơi vui, đúng là dân nhâu chuyên nghiệp. Anh nào gọi đi nhậu anh đó trả tiền, luật bất thành văn từ xưa đến nay. Không như dân Bắc cứ gọi nhau đi, nhậu xong ai có tiền thi trả, thành thử đến giờ thanh toán cứ nhìn nhau nói cười nhàn nhạt, nhiều anh cứ đúng giờ đó thì nhìn đồng hồ đứng dậy, nói mình có việc phải về sớm, bí quá thì nhảy đại vào toilet, hi hi.

Sài Gòn mỗi trận nhậu thường chia thành ba hiệp, hiệp một bia hơi, uống mồi chừng dăm bẩy vại là kéo nhau đi karaoke, hội hát bằng mồm hội hát bằng tay. Cuối cùng thì nháy nhau đi massage, kẻ massage sấp người massage ngửa. Sau đó thì biệt tăm, có khi nửa năm chẳng gặp nhau.

Sài Gòn lắm việc, bạn bè từ xa đến, sơ thì mời nhau cà phê ăn sáng, thân thì nhậu một trận tơi bời rồi lặn mất tiêu, ít ai mờt bạn về nhà. Nhiều người mới vào Sài Gòn hay bị sốc. Đã quen thói ở miền Trung miền Bắc, hễ có bạn tới là đánh đu với bạn suốt ngày, nay thấy bạn lặn mất tiêu suốt kỳ mình ở chơi, đến ngày về gọi điện chào cũng chỉ nói đi mạnh giỏi nghen, cũng chẳng thầy tiễn tiếc gì thì ngạc nhiên lắm, đôi khi tủi thân, bức mình nữa.

Ngược lại gần Sài Gòn lần đầu ra Bắc cũng hay bị sốc. Sáng mấy anh quen gọi đi nhậu, chiều cũng mấy anh đó đón đi, ngày mai ngày kia vẫn mấy anh đó đến ngày ra đi cũng mấy anh đó. Nhiều người cứ băn khoan không hiểu sao người ta mất quá nhiều thời giờ vì mình, đâu biết thời đó cánh viết lách xứ Bắc chỉ có một món tiêu xài thoải mái, đó là thời gian.

Dân Hà Nội cà phê không ham, công việc cũng chẳng nhiều, ngủ dậy muộn, ăn sáng xong làm mấy chén chè mới túc tắc đến công sở. Vật vờ vào ra cho đến trưa, giờ cơm trưa cũng là giờ đàn đúm, đến chiều tối lo về với vợ. Phàm đã chui vào chuồng lập tức nội bất xuất ngoại bất nhập, cố gắng làm anh chồng ngoan cho đến sáng hôm sau. Nhậu nhẹt nhiều khi như hợp, bàn đủ chuyện trên trời dưới đất, cãi nhau ỏm tỏi.

Thi thoảng mới có cuộc nhậu chia làm ba hiệp, hiệp một nhậu say chí tử, hiệp hai mới kéo nhau đi hát hay massage. Nhưng quân số hiếp hai thường mất đi một nửa, đủ thứ lí do để bỏ cuộc, người sợ vợ, kẻ sợ quan trên nhìn xuống người ta trông vào.

Dân nhậu Hà Nội quan tâm đến cái view, thoáng đãng yên tĩnh càng tốt vì họ cần nói chuyện, cuộc nhậu nào cũng có nêu vấn đề. Cánh viết lách Hà Nội ngồi với nhau mỗi ông là một ông trời con, không việc gì không phán được, ông nào ông ấy phát ngôn tầm cỡ ủy viên Trung ương, rất ghê. Hết nhậu về ông sở lại bóp miệng vật vờ vào ra vô cùng khiêm tốn, hi hi.

Dân viết lách miền Trung thường nhậu nhẹt bất tử, bất kể giờ nào miễn có tiền. Việc vàn chẳng có ba lăm, thời gian không thành vấn đề, chỉ cần cái cớ là kéo nhau vào quán. Bạn bè ở Nam ra, ở Bắc vào là cái cớ tuyệt vời đề khai báo với vợ, có thể đi thâu đêm suốt sáng.

Miền Trung vẫn giữ được thói quen bạn bè từ xa đến không thể không mời vé nhà, làm mâm cơm đãi bạn, nhậu nhẹt ở nhà chán chê rồi mới đi ra quán. Khách khứa nhiều người chạy sô ăn cơm nhà bạn cũng đủ chết xác nhưng không thể từ chối, bữa cơm nhà như là chứng chỉ của tình thân, sự quý trọng, thiếu nó lắm người rất áy náy.

Không có khác khứa thì tu bạ quán cà phê, ngồi chán thế nào cùng có người kéo đi quán, nhậu hết cuộc này sang cuộc khác, tối vừa về nhà có người gọi lại vọt, các bà vợ chỉ nguýt lườm ít ai dám nói. Ngày nào cũng nhậu, ít ai có khả năng bao sân, thành ra có kiểu nhậu nối dài. Anh đến sau bảo kể từ đây là phần của tôi nhé, mỗi anh chịu thanh toán một khúc, cứ thế nối dài ra mãi.

Về sau cánh nhà báo có kiểu nhậu bắt Fulro, gọi người ra trả tiền hộ. Nhậu giữa chừng thì gọi ai đó, thường là các ông chủ doanh nghiệp, các quan chức trong tỉnh, mời họ ra nhậu chơi. Mấy ông này lập tức hiểu ý, vọt ra làm đôi ba chén, góp vui đôi ba câu nói giành lấy bill thanh toán cai rẹt. Không phải ai cũng thích kiểu nhậu bắt Fulro, vì nó lấy đến đao đức nghê nghiệp, nhưng tỉnh nào cũng có một anh bắt Fulro cực tài, rất đáng sợ.

Ngày nay văn hoá nhậu ba miền đã có nhiều điểm tương đồng. Dân nhậu Bắc, Trung đã chuyên nghiệp tựa dân nhậu Nam. Cánh viết lách Hà Nội không chỉ nhậu vấn đề, nếu đờn ca cùng rất phê. Cánh viết lách Sài Gòn không chỉ nhậu đàn ca mà nhậu vấn đề cũng rất nổ. Cánh viết lách miền Trung đã có nhiều việc làm hơn, anh nào cũng công tác với vài ba tờ báo ở Hà Nội, Sài Gòn, nhậu nhẹt đả có giờ, không còn triền miên như ngày xưa nữa. Cả ba miền bây giờ chỉ nhậu hết hiệp một là về, ít ai sa đà sang hiệp hai hiệp ba tốn tiền mất thời giờ phí sức.

Phục vụ nhà hàng ba miến củng có niêu đổi khác. Miền Bắc, miền Trung học miền Nam đã thực bụng coi khách hàng là thượng đế. Nhân viên nhà hàng Hà Nội biết mềm mỏng lịch lãm nhiệt tình, đã mất đi khá nhiều các bộ mặt lạnh lùng, khinh khỉnh di chứng thời bao cấp. Nhân viên nhà hàng miền Trung cũng tiến bộ rất nhanh, không còn nhiều nhà hàng cho nhân viên ra tranh giành nhau chặn bắt khách hàng, bắt được rồi gọi gì cũng ra, dạ riết mà chẳng thấy đưa món ra, lại ra. Hỏi vì sao chưa đưa món ra, lại dạ. Nói tôi hỏi vì sao chưa đưa món ra dạ gạ cái gì, vẫn cúi đầu lễ phép dạ dạ gì, tức phát điên. Việc ấy bây giờ tuồng như đã chấm dứt. Có lẽ văn hoá dịch vụ bao cấp sắp chết thật rơi chăng? Mừng.

Một ngày Tà Ru



Sáng. Vẫn ngồi ban công ăn sáng đọc sách
Văng vắng một cái gì
Liếm mép nhìn lục bình trôi sông Sài Gòn
Này hỡi lục bình mày làm gì thế
Tự do hay sống mòn?
Trưa. Vẫn nằm giường nệm ngủ điều hòa
Thiêu thiếu một cái gì
Tắt mobile lại mở mobile
Chẳng chờ đợi điều gì vẫn cứ chờ
Kinh.
Chiều. Vẫn viết vẫn lướt mạng
Sờ sợ một cái gì
Giật thót mobile giật thót chuông cửa
Mình thật đáng thương thật đáng tởm
Địt mẹ.
Tối. Vẫn ngủ ngon vẫn thức lúc 2 giờ sáng
Nhớ quá bọn xã hội đen cùng phòng
Sống với chúng dễ hơn, an toàn hơn sống với cứt
(Tức bọn giả cầy trí thức)
Khó ngủ quá
Chổng mông đánh rắm một phát chơi
Mình rắm xong rồi lại ngửi
Ngẩn ngơ ngồi dậy ngẩn ngơ cười.

Nửa đêm sinh nhật Cu Líp 7/4/2015
Nguyễn Quang Lập

(

Thương nhớ vỉa hè




Thương nhớ gì lại thương nhớ vỉa hè, có mà dở hơi. Nhưng mà thương nhớ thật, nhiều khi tay chống cằm nhìn qua cửa sổ thấy vỉa hè nhốn nháo ngày nay bỗng nhớ thương da diết vỉa hè ngày xưa.

Nhớ thương vỉa hè là nhớ thương của những kẻ chân quê. Xứ mình là xứ nhà quê, nơi đô hội cũng chỉ rặt dân quê cả mà thôi, dù có hóa trang đến giời thì cái chất quê kiểng không sao bỏ đi được.

Hà Nội có cây xanh có ao hồ có vỉa hè, thiếu ba thứ đó không ra Hà Nội. Cái chất quê nghìn năm xứ Việt tụ cả lại nơi đây, tạo nên vẻ đẹp thuần Việt mê hồn. Phố xá bây giờ ở đâu cũng nhung nhúc đám giả cầy, nhờ có ba thứ đó Hà Nội vẫn nguyên bản sắc. Nói Hà Nội thanh lịch là nói cái vẻ dịu dàng nền nả kín đáo e ấp chân quê của nó chứ không phải thói trau tria tô lục chuốt hồng cả áo quần lẫn ngôn ngữ, kiểu như ông tiến sĩ ngôn ngữ X. từng nức nở Hà Nội thanh lịch không nói ăn mà bảo là xơi, đừng có mà nhầm.

Người Việt ở xứ Tây sở dĩ được người ta quí mến vì tư chất thông minh cộng với chất quê Á Đông đổ ra cả tấn vàng cũng không sao mua được, đừng tưởng bở giở dói thói thị dân nửa mùa ra, ăn cứt với chúng nó có ngày.

Trước đây mình ở Lò Sũ, tít ở trong ngõ sâu, nhà chật người đông, thiếu sáng thiếu khí, thành thử hai phần đời tha thẩn với vỉa hè. Vốn dân quê quen sống thông thoáng rồi, ngồi ở đâu mà thấy gò bó khó chịu lắm.

Vào nhà hàng sang thấy mình bân bẩn tồ tồ thế nào a. Lại thêm nhạc nhẽo, người nói tắt nhạc đi, người nói vặn to lên, người nói cho nghe bài này, người nói ê ê đổi bài kia… Ôi thôi mệt người. Nhào vào các quán bia hơi chật ních người, vừa nói vừa hét, chẳng ai nghe ai, đinh tai nhức óc.

Hồi trẻ mình cũng thích nhào vô mấy chỗ đông đúc ồn ào, giờ già rồi không thích nữa. Giờ nhậu đâu quan tâm đến cái view nhiều hơn là đắt rẻ ngon dở, quan tâm đến cái để chuyện trò hơn là cái để ăn uống. Vỉa hè tĩnh mà không vắng, thoáng mà không thưa, ngồi quán cóc vỉa hè thấy mình đúng là anh dân quê đang ngồi ở sân nhà mình, tự nhiên thấy yên tâm thoải mái hẳn.
Vỉa hè đêm thường dành cho đám cần lao. Hàng Cót chân gà, Quán Thánh bò nướng, Cát Linh chim quay. Phố Đinh Tiên Hoàng có quán chân gà nướng rượu Vân, trải chiếu cả dọc dài, ngồi xếp bằng nhai chân gà rau ráu. Có đêm mình với Bùi Thanh, Lê Đức Dục Báo Tuổi Trẻ ngồi nhậu đấy đến ba, bốn giờ sáng mới chịu ra về.

Xưa hai vỉa hè phố Lò Sũ, bốn gốc vỉa hè ngã tư Nguyễn Hữu Huân- Lý Thái Tổ cũng là phố ăn đêm, vui lắm. Khách chủ yếu là đám dân quê tứ phương về Hà Nội kiếm sống, kẻ xích lô người xe ôm, kẻ thợ mộc người phụ nề, kẻ tầm quất người ăn xin, cả trộm cướp đĩ điếm nữa… chừng nửa đêm tụ về trải chiếu kê gạch lót báo, tụm năm tụm ba ăn ăn uống uống vui lắm.

Lam lũ suốt ngày, giờ là lúc thảnh thơi nói chuyện trên trời dưới biển, tuyệt không ôn nghèo kể khổ, than vắn kể dài. Người nói, cụ Kiệt về nghỉ uổng quá nhỉ, người nói thôi cho cụ nghỉ, cụ tẩm bổ tắc kè cá ngựa hầu vợ chút, chứ bắt cụ làm cách mạng hết đời a, mọi người nói phải phải. Cứ thế mà râm ran. Người nói thằng Bin Clinton sang mình, nó đi ăn cơm bụi như tụi mình nhé, người nói phét, tổng thống mà đi ăn cơm bụi. Cứ thế mà ồn ào.

Mình viết lách đến nửa đêm lại tót ra đấy ngồi chầu rìa hóng chuyện, ối chuyện hay mót được từ những đêm như thế.

Sáng ra vỉa hè hứng hết dân phố, đâu đâu cũng có quà sáng, quán nước chè. Pha chè uống ở nhà dù ngon mấy cũng không thể bằng ngồi quán cóc. Hớp chén chè nóng, ăn cái bánh rán cái kẹo lạc, hút điếu thuốc lào, vếch mày ra phố nhả khói… sao mà thấy đời thật thong dong.

Dọc phố Bà Triệu các cụ đồ nho ngồi bán chữ. Thỉnh thoảng mình vẫn lang thang tán chuyện các cụ chơi vui. Cụ nói, 10 người đến xin chữ thì có đến 8 người xin chữ nhẫn, chẳng hiểu sao. Cụ nói, sao nữa, xin phúc lộc thọ làm gì, mấy thứ đó trời phân phát hết rồi còn đâu nữa mà xin. Cụ nói, phải phải, xứ mình muốn yên phận thì phải biết ôm lấy chữ nhẫn, không nhẫn không xong đâu.

Hàng Tre, Đường Thành xưa là nơi dân cắt tóc hành nghề. Cứ một cái gương treo, một cái ghế mộc, dắm ba cái dao kéo tông đơ là thành quán cắt tóc. Cắt tóc ở đấy vừa nhanh, không phải đợi, vừa đẹp vừa rẻ. Đa số thợ cắt tóc là bộ đội phục viên, vừa cắt tóc vừa kháo chuyện văn nghệ sĩ.

Người nói, ông Nguyễn Văn Thiệp tịt văn chương rồi, vừa xây cái tượng Phật to lắm. Người nói, ông Ngô Bảo Ninh viết Nỗi buồn chiến tranh, sao không viết Nỗi buồn hòa bình nhỉ. Người nói, ngu ngu, Ngô Bảo Ninh à, Phạm Bảo Ninh chứ. Người nói, ngu ngu… ông này Hoàng Bảo Ninh con ông Hoàng Tuệ. Người nói, tôi biết Bảo Ninh nhé, ông hay ra mua rượu quán vợ tôi, vợ ông là giáo viên đẹp lắm, chân dài cực. Vui ghê, không đến đấy cắt tóc thật phí cả nghề văn.

Dọc đường Hùng Vương, Lý Thái Tổ, Phan Đình Phùng… ôi, nhiều đường lắm, cứ vài trăm mét lại gặp mấy ông hưu trí ngồi đánh cờ, lúc lúc lại thấy một ông bày cờ thế ngồi chồm hổm thách khách bộ hành.

Ở góc phố nào cũng có tụi con nít chạy loăng quăng đá bóng, nhảy dây. Mấy thiếu phụ vắng chồng, dắt con nhỏ tha thẩn đứng hết góc này sang góc nọ, gió thổi tóc bay váy lộng, vào mùa lá rụng cảnh ấy đẹp lịm người.

Bây giờ thì không còn nữa, một khi hàng hóa túa ra là vỉa hè teo lại nhuờng chỗ cho mưu sinh. Ô tô chiếm hết lòng đường là xe đạp xe máy nhảy lên hết vỉa hè. Mỗi đường phố chỉ còn vài khúc thảnh thơi, còn thì mất sạch, mai mốt có lẽ không còn cái vỉa hè nào cho đúng nghĩa vỉa hè Hà Nội.

Không còn vỉa hè cũng tắt luôn tiếng rao đêm. Tiếng quất ơ ông già mù tầm quất, tiếng lộn ơ chị Mến phố Hàng Than, tiếng bánh bao nóng giòn đê, bánh mì nóng giòn nào vẫn rỉ rả vang lên đêm tĩnh mịch… Khắp chốn kinh kỳ, ở đâu thị trường thời mở cửa bao vây ở đó văn hóa Việt chỉ còn ngắc ngoải sống, không phải chết tức tưởi là may, văn hóa vỉa hè thì cũng thế.

Nhớ mãi một chiều Trần Dần chống gậy đứng phố Nguyên Du lom lom nhìn ra đường, mấy sợi râu rung rung như sợ hãi như giận dữ. Thốt nhiên ông ôm ngực ho, vừa ho vừa chỉ ngón trỏ lên trời, nói, tôi muốn nuốt Hà Nội vào lòng, trớ ra đô thành dởm. Đó là câu thơ cuối cùng mình nghe Trần Dần đọc, ông bỏ Hà Nội về trời năm 1997, năm mà vìa hè chính thức bị thương trường thời mở cửa xâm lăng.

Thế nên mới nhớ. Nhớ Phùng Quán guốc mộc áo cánh lui cui đi dưới mưa phố Phan Đình Phùng. Nhớ Bùi Xuân Phái ngồi dưới cây phượng già phố Hàng Buồm gật gù chén rượu Vân. Nhớ Tào Mạt chân nam đá chân chiêu đường Hoàng Diệu. Lưu Quang Vũ đứng tè góc phố Yết Kiêu. Nhớ cả Trịnh Công Sơn thỉnh thoảng ra Hà Nội, trắng đêm tiệc tùng lại trở về góc đường Lê Phụng Hiểu với chén rượu trắng cầm tay, rưng rưng hát một câu gì.

Ôi không còn vỉa hè, danh sĩ nước Nam ta biết ẩn nấp vào đâu….

Nói gì với mưa phùn

Tuỳ bút Nguyễn Quang Lập






Giữa trưa đầy nắng Sài Gòn chị bán cà phê vỉa hè chợt nói, sắp tháng chạp rồi nè. Thốt nhiên lòng  se lại. Ừ nhỉ, tháng chạp sắp về rồi. Mưa phùn sắp về với Hà Nội rồi. Tôi đã đi qua hầu khắp những miền quê có mưa phùn. Chẳng biết có thiên vị không, trước sau tôi vẫn đinh ninh nói đến mưa phùn là người ta nhớ ngay đến Hà Nội.

Vào hội nhà văn






 Chẳng hiểu từ bao giờ có luật bất thành văn: ai là hội viên hội nhà văn mới được gọi nhà văn, còn lại là cây bút, cây bút trẻ, chiếu cố lắm mới được gọi nhà văn trẻ.

Sông Hàn chiều nay



 

 

Đang ở Đà Nẵng, trong một khách sạn nghèo với Trung Trung Đỉnh. Năm giờ sáng đã mò dậy, lo viết nốt bài gửi sớm cho B.H vì mình biết khoảng hai tiếng nữa là bạn bè kéo đến bù khú tối ngày, không làm được việc gì.

Make love và take off





Nghiệm ra trong suốt đời mình, hễ việc gì mà mình cố đều thành cả, trừ việc học ngoại ngữ. Không biết cái đầu mình cấu tạo bằng chất gì mà không sao nuốt nổi món ngoại ngữ. Việc học ngoại ngữ của mình na ná việc cai thuốc lá vậy, học đi học lại bao nhiêu lần tóm lại how are you vẫn hoàn how are you

Chuyện trồng người và việc tăng học phí



 

 

 

Mấy ngày nay thiên hạ bàn tán xôn xao việc tăng học phí, mỗi năm tăng một ít, hu hu không nghe nói chất lượng giáo dục tăng hàng năm chỉ nghe nói học phí tăng hàng năm thôi. Năm tới mức học phí đại học tăng 2, 3 lần, mới nghe đã giật mình toát cả mồ hôi.

Còn nhớ ngày xưa đi học, sinh viên đi học không phải trả học phí, mình là dân Quảng Bình còn được hưởng “lương” một tháng 4 đồng, bằng 4 trăm ngàn bây giờ chứ không ít.  Đứa nào học giỏi còn được hưởng học bổng một tháng hăm hai đồng, đi học còn có tiền gửi về giúp bố mẹ, ngày nay nghe như chuyện trên trời nhưng xưa thì có đấy.

Thằng Viết (Nguyễn Xô Viết) bạn mình ra học Đại học Bách khoa, ba mẹ bà con cho 300 đồng, tiêu nửa năm hết có ba chục đồng. Nó không hút thuốc nghiện chè, tiêu tiền chủ yêu đi xe điện, xe bus. Thời đó xe bus một hào, xe điện 5 xu đi mệt nghỉ. Thấy dư tiền nó gửi về nhà 200 đồng “giúp ba mẹ cho các em ăn học.” Chuyện này xưa nay hiếm. Kể vậy để biết đi học ngày xưa không cần phải nộp một khoản nào cả, kể cả  giáo trình tài liệu cũng được phát không.

Ngày nay ai cũng ngán thời bao cấp, nghe nói đã phát sợ, có chuyện gì hay ho thời bao cấp cũng chẳng tin. Thực thì thời đi học đại học ngày xưa là giấc mơ hiếm thấy của sinh viên thời nay.

Ăn uống cũng không phải lo, đến bữa cứ việc xách miệng đến nhà ăn thôi. Mình học ở Bách Khoa Hà Nội không cần mang bát đũa, cứ tay không đến ăn, ăn xong thì thả mâm bát đó về, có người rửa bát đũa cho rồi. Nếu cầm bát đũa lên thấy dơ, dính mỡ lập tức doạ mấy cô nhà ăn, nói sẽ báo cáo nhà trường, các cô sợ bằng chết, hi hi.

Ngày xưa nghèo khổ, dân phải ăn độn bo bo, độn sắn ngô, chỉ có sinh viên và bộ đội là được ăn cơm 100%. Bộ đội phải đánh giặc giữ nước ưu tiên là phải rồi, sinh viên cũng được ưu tiên y chang bộ đội, chuyện đó ngày nay không ai hiểu.

Thư cụ Hồ gửi sinh viên học sinh năm 1946, năm đầu độc lập, phàm là học trò không ai là không nhớ.Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần rất lớn công học tập của các cháu”. Nhớ nguyên xi từng chữ không quên không lộn chữ nào vì tin tưởng vô cùng cụ Hồ không hề nói suông. Quả thật thời cụ Hồ còn sống,  giáo dục y tế nước dù rất thiếu thốn nhưng lúc nào cũng chứng minh được cụ Hồ không thèm nói suông với sinh viên học sinh.

 Thấm nhuận lời dạy cụ Hồ, học trò đứa nào đi học cũng đinh mình đi học là cho đất nước, thấy vừa oách vừa lo. Học cho mình thì quấy quá thế nào cũng xong, chứ học cho Đất nước không thể tào lao chi khươn được. Thành thử đứa nào đứa nấy lo bò ra học, cứ mỗi mùa thi đứa nào cũng sụt vài ba cân là chuyện thường.

Thầy cô đi dạy cũng thế, chả ai nghĩ đi dạy để kiếm cần câu cơm, lương tháng năm đồng ba cọc câu cơm cái gì, đi dạy cũng  làm theo lời Bác là trồng người. Bác nói rồi, “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Trồng cây vớ vẩn đã chẳng thành rừng, huống hồ trồng người, cô thầy ai cũng lo lắm, nhiều người mất ăn mất ngủ vì học trò.

Thành thử không có chuyện chạy điểm mua điểm, suốt năm năm học Bách Khoa mình chưa nghe hai tiếng giới hạn bao giờ, học bao nhiêu thi bấy nhiêu chẳng giới hạn giới heo gì hết. Toàn thi vấn đáp thôi, bắt thăm đề thi may nhờ rủi chịu, cứ hai thầy một trò các thầy vặn cho đến toát mồ hôi, nảy đom đóm mới mong kiếm được điểm 4, điểm 5 ( Ngày xưa điểm số hệ số 5).

Mình nhớ năm thứ hai thi toán Lý thuyết nhóm, cô bồ của mình ở Sơn Tây mổ ruột thừa mình phải lên chăm sóc, đến ngày thi bò về thi, bắt phải cái đề khó làm không ra bị điểm hai, mình không khóc mà cô dạy toán mình lại khóc. Kể vậy để nói ngày xưa đói nghèo cực khổ nhưng học thật thi thật, thành thử đứa nào trụ được sau này đều ăn ra làm nên cả.

Ngày nay đi học là để ấm vào thân, vinh thân phì gia triết lý của thời nay. Dạy và học theo quan điểm “thị trường là tất cả”, người ta lý luận “giáo dục là hàng hóa”, anh đi học là mua, anh đi dạy là bán. Có điều người bán tha hồ tăng giá, người mua không có quyền mặc cả, chất lượng “ hàng” xuống cấp không được kêu, ai kêu thì xin good bye go home.

Đã thế thì đừng nói đến trồng người. Ai đời thưở người trông cây lại bắt cái cây trả tiền công. Thế sau này cái cây ra quả thì ai ăn quả đây, không lẽ cái cây ăn lấy một mình? Bố mẹ cũng chỉ được hưởng một vài quả thôi, còn lại thì ai hưởng nhỉ?  Tới nay lại nhớ lời cụ Hồ năm 46, giản dị ấm áp mà vô cùng quan thiết. Tiếc thay nhiều người làm giáo dục ngày nay hoặc đã quên mất hoặc cứ nghĩ đó cũng chỉ là lời nói suông như vô số lời nói suông của họ.

Giáo dục là chuyện trồng người, không thể là chuyện bán mua. Đã bán mua tất nhiên có mua điểm mua bằng mua đủ thứ, miễn có tiền thì mua được tất. Chỉ béo mấy anh nhà giàu, dốt mấy mà có tiền cũng xong hết. Khổ mấy anh nhà nghèo, nhiều đứa học giỏi như trời không tiền đành bỏ học. Học phí  tăng một học trò bỏ mười, kinh doanh như rứa là lời hay lỗ nhỉ?

Nói gì thì nói, dù xã hội hoá kiểu gì mà giáo dục chỉ loay hoay việc mua bán là không có được. Nhiều người cứ khăng khăng chỉ vì học phí thấp, thu không đủ chi, nên chất lượng giáo dục mới thấp. Nói thế là quên mất lời Bác dặn rồi, không lẽ lại nói Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần rất lớn vào… việc tăng học phí!
Hu hu.

Chuyện lạ có thật



 

Báo Tuổi trẻ đưa một cái tin làm tui ngồi ngẩn ngơ, mừng và cảm động, ấy là việc công an Q.6 Sài Gòn xin lỗi dân. Sự việc như ri: Trong hồ sơ của Công an Q.6, từ mười năm trước có một vụ việc lừa đảo và bên bị hại khai người lừa đảo xưng tên Võ Văn Hùng, sau đó Công an xã Xuân Tâm cũng xác nhận ở ấp 3 có ông Võ Văn Hùng nên công an quận đã ra lệnh truy nã và dẫn đến việc bắt nhầm ông Hùng vào ngày 12-11. Té ra bắt lộn. Rứa là công an Q.6 đến tận nhà ông Hùng xin lỗi.

Cuối năm bờ lóc bờ leo


 

 

 

Bữa trước cu Nhất khuyên lãnh đạo nước nhà nên lập blog, tui rất nhất trí. Muốn gần dân hiểu dân không cách gì hay hơn tự mình lập nên một blog. Tui ít khi khuyên ai, với quí vị lãnh đạo lại càng không dám. Nhưng lần này tui mạo muội khuyên quí vị, một lời khuyên rất chân thành, rằng quí ví hãy gia nhập thế giới mạng và làm quen với blog đi. 

Thầy cô, con ruồi nồi canh và tiên học lễ


 

 

 

Câu chuyện cô giáo tiếng Anh mắng chửi học trò, thiên hạ bàn tán chưa xong, lại đến chuyện cô giáo tin học chửi mắng học trò, gây một cú sốc lớn trong xã hội. Người ta không thể tin được cô giáo lại có thể nói năng kiểu hàng tôm hàng cá, mày mày tao tao với học trò, lại còn đòi vả vỡ mồm học trò, thật là kinh khủng!

Ngô Bảo Châu và chuyện bờ loc bờ leo




Nhờ mạng méo mình quen được nhiều người rất thú vị, quí hoá nữa, trong đó có Ngô Bảo Châu. Mình biết Châu từ năm 1988, năm nó mới 16 tuổi đang học lớp 11 đã oẵm huy chương vàng Olympic toán quc tế (lần thứ mấy quên rồi) ti Australia. Sang năm lớp 12 nó oẵm thêm một huy chương vàng Olympic quốc tế  nữa tại CHLB Đức. Nước Nam ta từ xưa tới nay chỉ có một người oẵm được hai huy chương vàng Olympic toán quốc tế, đó là Ngô Bảo Châu.

Tai Phật để làm gì


 

Tối qua rảnh rỗi lang thang blog, ghé qua nhà ông Nguyễn Xuân Diện thấy ông kể chuyện đem mấy ông bạn miền Nam đi thăm chùa Bút Tháp, nơi có tượng quan âm thiên thủ thiên nhãn. Chuyện chẳng có gì nếu ông bạn miền Nam không ngạc nhiên kêu lên, ủa sao lại nghìn mắt nghìn tay, nghìn mắt nghìn tai chứ… khiến tui  cười phì. Lại nghĩ ngợi linh tinh.

Hút điếu cuối cùng



Mình nghiện thuốc lá từ năm hai mươi tuổi, ra Hà Nội mới nghiện thuốc lá. Học đại học ở chung phòng với mấy anh bộ đội, toàn sâu nghiện cấp tám. Mình làm “trợ lý sai vặt” cho mấy anh, chuyên mua thuốc pha trà cho đám sâu nghiện rồi thành sâu nghiện từ lúc nào không biết.

Bo Lập ... say




Mình uống rượu chủ yếu vì ham vui chứ không nghiện. Rượu đầy nhà nếu không có khách thì không bao giờ đụng đến. Cái tật ham vui, có bạn gọi là đi liền, bảo uống không khi nào từ chối. Bây giờ vẫn thế, có khi một ngày uống 2, 3 cuộc. Say nhừ, đái ra toàn mùi bia rượu, kinh.

Trung thu Bọ Lập

Đêm nay bọ Lập đứng ở ban công nhìn ra sông Sài Gòn. Trăng ngàn và gió biển bao la khiến lòng bọ man mác nghĩ tới trung thu và nghĩ tới các em
Trăng đêm nay sáng soi xuống đất nuớc Việt Nam suýt độc lập yêu quý của các em. Trăng sáng mùa thu vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng mạc, núi rừng, nơi quê huơng thân thiết của các em…
Bọ Lập nhìn trăng và nghĩ tới ngày mai…
Ngày mai, các em có quyền mơ tưởng một cuộc sống tuơi đẹp vô cùng. Mươi mười lăm năm nữa thôi, các em sẽ thấy cũng dưới ánh trăng này, không còn những kẻ phá rừng làm thủy điện; Không còn những đập thủy điện được liều mạng xây cất nơi đứt gãy vỏ quả đất, nơi chứa đựng vô vàn những trận động đất, như thủy điện sông tranh 2. Cũng không còn những Vinalies, Vinashin và vô số Vina khác. Chúng đã biến mất tăm cùng với bè lũ tham nhũng tham lam và độc ác.

Con Chôm Chôm


Tản văn
Hôm nay Trần Thùy Mai gửi cho mình cái truyện ngắn của Tàu: Người mẹ điên của Vương Hằng Tích, Mai còn chua thêm mấy chữ, nói gửi Lập nhân ngày của mẹ. Bây giờ mới nhớ ra chủ nhật này là chủ nhật tuần thứ hai của tháng năm, tức là Ngày của mẹ. Tất nhiên ngày mẹ của Tây chứ  lễ Vu Lan hãy còn lâu mới tới. Truyện thật cảm động, nó lột tả tâm trạng đứa bé xa mẹ khi lọt lòng, đến khi gặp lại mới biết mẹ mình là một “ con điên” bị mọi người coi rẻ và xa lánh. Tự nhiên mình nhớ đến con Chôm Chôm, nó giống hoàn cảnh “Người mẹ điên” vậy, tội lắm.

Chuyện thế này.

Con khỉ của anh Xuân Đàm


Tản văn

Chả hiểu sao mấy hôm nay cứ lởn vởn bóng dáng con khỉ của anh Xuân Đàm, con vẹt của anh Hải Bằng, đi đâu cũng nhớ về chúng nó. Lạ quá, hay là do biến đổi khí hậu?  Hi hi. Chuyện con vẹt của anh Hải Bằng kể sau, bây giờ kể chuyện con khỉ của anh Xuân Đàm trước đã.

 Anh Xuân Đàm là đạo diễn sân khấu lứa “Tây học”, lứa đạo diễn đã làm nên một giai đoạn rực rỡ của sân khấu nước nhà (1980-1995). Giống như thơ tiền chiến đã làm nên một cuộc cách mạng thơ ca vô tiền khoáng hậu, các đạo diễn “Tây học”, trong đó có anh Xuân Đàm, đã làm nên một cuộc cách  mạng sân khấu có một không hai. Họ đã rũ bỏ thứ ngôn ngữ tả thực thô sơ để đem đến sân khấu một ngôn ngữ ước lệ hiện đại làm nức lòng khán giả đương thời. Nhưng thôi, chuyện này nói sau. 

Hút điếu cuối cùng


Tản văn

Mình nghiện thuốc lá từ năm hai mươi tuổi, ra Hà Nội mới nghiện thuốc lá. Học đại học ở chung phòng với mấy anh bộ đội, toàn sâu nghiện cấp tám. Mình làm “trợ lý sai vặt” cho mấy anh, chuyên mua thuốc pha trà cho đám sâu nghiện rồi thành sâu nghiện từ lúc nào không biết.

Đúng là nghiện cái gì khổ cái đó. Đầu tiên là cái khổ lén lút không cho người lớn biết. Về nhà không dám để thuốc lá trong người, giấu gói thuốc sau hồi, khi nào thèm lắm mới nhảy ra lén lấy điếu thuốc, chui vào hố xí ngồi hút, vừa hút vừa ngửi phân cũng ráng chịu. Thứ hai là nỗi khổ thiếu tiền, vì nghiện thuốc lá mình kẹt tiền quanh năm, có cái gì đều bán sạch để mua thuốc lá. Đến nỗi bữa cơm có nửa cái bánh mì cũng nhịn, chung nhau một mâm bốn đứa hai cái bánh mì đem ra quán đổi thuốc lá cuộn. Nói thật từ năm hai mươi tuổi cho đến khi lấy vợ, mình chỉ có một mơ ước, mơ ước thật sự, là làm sao có tiền để không phải cắm quán mỗi lần mua thuốc lá.