(Nhân đọc Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong)
1
Đề từ Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong là hai câu thơ của danh sĩ Trần Bích San trong bài "Quá Hải Vân Quan"1: ."Văn vô sơn thủy phi kỳ khí,/ Nhân bất phong sương vị lão tài”. Tạm dịch: “Văn thiếu hồn sông núi, nào thành kỳ khí;/Người chưa từng dãi dầu sương gió, khó nên bậc chân tài.” Hai câu thơ không chỉ hàm chứa quan niệm rất sâu của nho gia và của người cầm bút xưa, mà còn chứa đựng nguồn gốc của văn chương và sự trưởng thành của người cầm bút.
Đọc xong 546 trang nhật ký khổ 16x24 Chu Cẩm Phong ghi chép “không phải để cho người khác đọc, càng không phải để in ra” (Bùi Minh Quốc) ta biết vì sao Chu Cẩm Phong lấy hai câu thơ đó làm tuyên ngôn cho đời văn của mình. Cho dù đời văn Chu Cẩm Phong quá ngắn ngủi vẫn đủ thấy phẩm cách nhà văn của anh: coi văn chương là sự nghiệp gắn với vận mệnh đất nước, coi trải nghiệm và gian lao là con đường tất yếu để hoàn thiện tài năng, và sẵn sàng lấy chính cuộc đời mình làm giá phải trả cho khát vọng sáng tạo.
Mười ba tuổi xa mẹ theo cha ra Bắc tập kết, học tới đại học, vào khoa văn khoá 5, khoá học ba năm cuối cùng của Đại học tổng hợp Hà Nội (1960-1963), có nhiều anh tài sau này rất nổi tiếng: Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân), Bùi Minh Quốc, Ngô Thảo, Nguyễn Trung Thu, Từ Sơn, Trần Nhật Lam… và anh, Chu Cẩm Phong.
Chu Cẩm Phong học giỏi, năm thứ ba được kết nạp Đảng. Một trong tám sinh viên được giữ lại khoá sau, khoá bốn năm đầu tiên. Tốt nghiệp đại học vào hàng xuất sắc. Dù biết mình có tên trong các sinh viên được ra nước ngoài nghiên cứu sinh, anh vẫn khoác ba lô lên đường đánh giặc cùng ba vạn học sinh, sinh viên Hà Nội và các bạn cùng lớp là Ca Lê Hiến, Nguyễn Hồng Tân, Từ Sơn. Đó là lứa sinh viên học sinh đầu tiên lên đường cứu nước sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ 2.8.1964, cái cớ Mỹ dựng lên để mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Về sau lớp K5 còn có Bùi Minh Quốc, Ngô Thảo, Nguyễn Trung Thu, Nguyễn Thắng Lộc… trước sau đều khoác ba lô lên đường. Ấy là “Lớp tuổi hai mươi, ba mươi điệp trùng áo lính, Xanh màu áo lính"2 như thơ Thanh Thảo, bạn học khóa sau, đồng đội lứa sau tiếp bước theo các anh:
"Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
(Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc)
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?"3
Năm 1964 Chu Cẩm Phong 23 tuổi “thơ có đôi bài, văn viết đôi trang”. Cũng như mọi sinh viên khoa văn khoác ba lô ôm súng đi dọc dài đất nước với khí vận giang sơn, hồn thiêng sông núi không chỉ để có những trang văn kì tuyệt, xứng đáng một chân tài. Như nhà văn Trần Đăng tòng quân từ tháng 1. 1946 với tác phẩm đầu tay Một lần tới Thủ Đô, hy sinh ngày 26.12.1949, đời văn chỉ vỏn vẻn có ba năm thôi vẫn có nhiều tác phẩm bất hủ. Trần Đăng đã để lại tâm niệm như một lời dặn chân thành với các nhà văn thế hệ sau: “Hãy sống đã, sống thực sự cuộc sống của nhân dân.” Lời dặn giản dị mà quí giá vì nó chứa đựng nguồn gốc của văn chương chân chính. Chu Cẩm Phong và các nhà văn trẻ đồng đội đồng thời của anh đã mang theo dặn ấy, hãy khoan nghĩ đến mơ ước được là một chân tài, trước hết là đi đến cùng con đường một người lính cứu nước, sống đến cùng cuộc sống của một người yêu nước mình.
Phải tới ba năm sau khi vào chiến trường, tháng 7 năm 1967, Chu Cẩm Phong mới bắt đầu viết nhật ký. Khởi viết từ 11.7.1967 và ngưng bút 27.4.1971, bốn ngày trước ngày anh hy sinh 1.5.1971. Cuốn nhật ký đã sống cùng anh 1390 ngày đêm, trọn một đời văn: 3 năm 9 tháng 16 ngày. Căn cứ số trang in có thể tính ra số trang viết tay khoảng 1500 trang giấy học trò, nặng khoảng 2,5-4 kg. Cuốn nhật kí đã ở trên lưng Chu Cẩm Phong suốt 3 năm 9 tháng 16 ngày khắp các nẻo đường Quảng Ngãi- Quảng Nam, ước tính thấp nhất không dưới 2000 km, mới thấy ý chí bền bỉ của anh.
Nhà thơ Bùi Minh Quốc là bạn học cùng lớp đại học, bạn đời tri kỷ, bạn chiến đấu “cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu4” với Chu Cẩm Phong, cho hay: “Anh vốn người mảnh khảnh cao gầy, lại bị những trận sốt sét triền miên hành hạ nhiều năm, nước da lúc nào cũng xanh mét, người càng thêm gầy nhẵng… Khi chúng tôi ngồi viết thì anh đi làm rẫy, khi chúng tôi nghỉ ngơi thì anh ngồi viết.. những trang viết của anh còn lại đến hôm nay đều được viết trong những đêm dài như thế trên rừng núi chiến khu, hoặc dưới tầm đạn giặc, có khi ngay bên miệng hầm bí mật ở đồng bằng.” Đủ biết Nhật ký chiến tranh được viết ra bởi một nghị lực hiếm có.
Sau ngày Giải phóng Đà nẵng 29.3.1975, Bùi Minh Quốc nhận được tập nhật ký từ tay một sĩ quan VNCH Hoàng Đình Hiếu. Cầm bản thảo nhật kí trong tay- Bùi Minh Quốc viết: “vết xé còn xém đen chắc chắn là do mảnh lựu đạn hoặc đạn cối cá nhân M79 chém vào suốt chiều dày mép trên cuốn sổ là chứng tích không lời, nóng rực trên tay tôi, sáng rực trước mắt tôi, những giấy phút cuối cùng lẫm liệt của Chu Cẩm Phong”. Không thể nói khác hơn Nhật ký chiến tranh là chứng tích không lời sự sống và viết của Chu Cẩm Phong được xác tín bằng máu của chính anh.
2
Chu Cẩm Phong học Hán Nôm, luận văn tốt nghiệp về Truyện kiều và thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Thời gian đầu anh làm phóng viên TTXVN là sở đoản, sau làm phóng viên, biên tập viên tạp chí Văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ cũng chẳng sở trường. Nhật ký chiến tranh trước hết là sổ tay ghi chép chất liệu văn chương và rèn giũa văn chương, xưa vẫn gọi là văn tư liệu, nhằm cố vượt qua sở đoản của một cây bút. Không ngờ, nó lại trở thành một tác phẩm văn chương hiếm có thuộc dòng văn học phi hư cấu, điều mà có lẽ chính Chu Cẩm Phong cũng không lường trước được.
Đọc lại các tác phẩm văn học đã công bố của Chu Cẩm Phong:“Mẹ con chị Hiền”- “Gió từ Cửa Đại”- “Người mẹ”- “Phần việc của người đã khuất.”-. “Mặt biển, mặt trận”- “Trên những đại lộ tấn công vào Đà Nẵng”- Bám đất quê hương”…Những truyện ngắn và bút ký, phóng sự mà Chu Cẩm Phong coi là những tác phẩm văn học đích thực, được anh viết chăm chút kĩ lưỡng với bao trăn trở, dù thực sự có giá trị cũng khó lòng vượt qua được Nhật ký chiến tranh cả nghệ thuật lẫn nội dung và hiệu quả thẩm mĩ. Đó là điều khó tin. Chăm chú đọc tác phẩm này từ trang đầu tiên đến trang cuối, đừng bỏ sót câu chữ nào, càng đọc càng thấy lạ lùng rằng điều khó tin ấy là sự thật, thậm chí là điều kì diệu trong văn chương Việt ở đề tài chiến tranh.
Trang nhật ký đầu tiên ghi ngày 11.7.67 không hề mở đầu bằng một tâm sự như mọi nhật ký, mà bắt đầu một đoạn văn tả:“Ở đây đã gần đồng bằng- nói đúng ra là gần trung châu- tiếng đại bác dưới Tư Nghĩa, Sơn Tịnh vọng đến ì ầm, âm vang từng đợt. Rừng ở gần trung châu khác hẳn rừng núi những ngày mình vừa đi qua. Không có những dải rừng già bạt ngàn mênh mông nữa, bắt đầu có những đồi trọc, cây cối thưa thớt, và đặc biệt có những đồi sim liên tiếp, trái đã chín đen, ngọt.” ( Tr. 21).
Những dòng văn tả mộc mạc, thô ráp không hề cố ý làm chữ viết văn, báo cho ta biết đây là cuốn nhật ký khác thường.
Hầu hết các trang sau đó đều tả và kể, rất ít nỗi niềm tâm sự. Đọc thì biết tác giả đang ở đâu với ai, nơi đó đã và đang xảy ra chuyện gì. Cũng trong ngày 11.7.67 có đoạn chép: “Ngày hôm kia, mình và Cao Duy Thảo phải tự lực xuôi sông Thò Lò- sông đặc cá- và ngủ lại trong một làng cũ của người Rhe. Trời mưa giông vào buổi chiều, nước đục. Từ cánh rừng phía sau vọng đến tiếng cọp gầm, rờn rợn. Lần đầu tiên mình nghe tiếng cọp gầm. Người ta nói rằng, vào những chiều mưa như vậy, nước nhỏ nhột lưng, cọp chạy ra khỏi rừng, gầm vang. Tự nhiên lại nhớ “Ngậm ngải tìm trầm” của Thanh Tịnh. Câu chuyện thật buồn.” ( Tr.21)
Chỉ dăm câu về dòng sông đặc cá, đêm mưa rừng và tiếng cọp gầm cùng với liên tưởng văn chương báo ta cho thấy Chu Cẩm Phong có căn tài văn chương: Quan sát tinh tế, giàu liên tưởng và tưởng tượng.
Lật giở vài trang nữa ta liên tiếp bắt gặp những chữ văn, dòng văn, đoạn văn miêu tả mà người viết không hề có ý miêu tả cho người đọc, như Bùi Minh Quốc, người biên tập chính cuốn này, đã xác nhận.
Đây là sông Trà: “Xế chiều, gió mát trong sạch lồng lộng, thơm thơm. Bầu trời trong và cao”.. “Dẫn đường là một đồng chí giao liên đã lớn tuổi, bé loắt choắt rất vui và tốt bụng. Đồng chí bỏ đồ đạc của bọn mình vào một đôi gánh, quảy nhịp nhàng, vai mang khẩu súng tuynh (súng Carbine M1).Đưa đò lại là một em bé gái khoảng mươi hai mười ba tuổi. Chiếc thuyền bị thủng một lỗ rất to ở mạn, phải ngồi nghiêng để nước khỏi vào. Em bé chống thuyền rất cừ”…( Tr.23).
Đặc tính của nhà văn có tài là nhận ra cái khác thường trong cái bình thường mà người khác không để ý. Đoạn văn hơn 50 chữ cho thấy lắm sự khác thường thú vị, từ ngọn gió “thơm thơm” đến anh giao liên lớn tuổi mà “bé loẳt choắt”, từ em bé gài chèo đò mười ba tuổi “chống thuyền rất cừ”, đến con thuyền “bị thủng một lỗ rất to ở mạn, phải ngồi nghiêng để nước khỏi vào.” Mấy chữ “phải ngồi nghiêng để nước khỏi vào” nhẹ như không đủ gây kinh sợ với những ai đã từng qua sông rộng.
Đây nữa, trên sông Thu Bồn:“Từ Sơn Tân xuống gọi là sông Thu Bồn, dòng sông mở rộng, nước chảy mềm mại êm xuôi, chỉ gợn những làn sóng lăn tăn. Mùa lụt nước cuốn theo cát và đá, xoáy dòng sông nên có vài cái thác nhỏ. Chúng mình ngồi đò dọc nhìn sắc trời đang chuyển dần tối, chỉ còn những vảy mây sáng rồi tắt hẳn. Những rẫy tranh, nương ngô hai bờ mườn mượt xanh đậm nhạt xa dần. Hai bên bờ, người địa phương dắt trâu đi tắm, đi gánh nước. Bộ đội hành quân trên bờ cao in trên nền trời phía tây vòi vọi. Gió nồm thổi qua Hòn Kẽm Đá Dừng hun hút, ngọn gió trở nên mạnh mẽ và dữ dội. Hai cha con bác chèo đò người gần như nằm rạp xuống nhấn tay chèo. Vượt thác, chiếc chèo trong tay bác lái uốn thành một đường cong, con thuyền lượn theo dòng nước phóng xuống như bay.” (Tr.70)
Không câu nào không có sự khác thường. Một bức tranh thuỷ mạc thời chiến đắt giá: yên bình lẫn với dữ dội. Chưa thấy một đoạn văn nào viết về sông Thu Bồn kết hợp hài hoà tĩnh và động, trữ tình và hiện thực với ngôn ngữ giàu chất tạo hình và nhạc điệu được như đoạn văn này.
Tới đây đã rõ với Nhật ký chiến tranh, Chu Cẩm Phong mượn tả và kể để kí thác tâm sự. Ở đâu có tả kể ở đó có văn, không phải văn của kẻ sĩ lúc nhàn tản thong dong lấy hư cấu làm căn bản. Văn của người lính giữa lằn ranh sống chết, lấy mắt thấy tai nghe làm lý do cầm bút. Có thể nói, Nhật ký chiến tranh là sự kết hợp tài tình giữa nhật ký của một người lính với văn chương của nhà văn.
3
“Vượt đường thật khó khăn, trăng mười hai sáng vằng vặc, giữa đồng ruộng lồng lộng. Đoàn vừa đi khỏi đường thì súng nổ ran. Súng liên thanh và các cỡ súng cối, sau đó mấy phút pháo từ chi khu Bình Liên bắn tới. Pháo sáng hàng chục chiếc giăng thành hàng run rẩy trên bầu trời át ánh trăng dịu và trong.” (Tr.30)
Đoạn văn trên cho thấy tác giả tả cảnh với cái tâm tĩnh. Giữa khốc liệt chiến tranh, nếu không giữ được cái tâm thế tĩnh tại, người cầm bút khó lòng nhận ra và ghi nhớ hình ảnh và so sánh màu tinh tế:“Pháo sáng hàng chục chiếc giăng thành hàng run rẩy trên bầu trời át ánh trăng dịu và trong.”
Cũng vậy, nếu không có tâm tĩnh làm sao thấy hết, nhớ hết những gì xảy ra trong cảnh này:“Pháo tàu bắn dữ dội suốt buổi trưa vào xóm. Tiếng nổ làm hầm rung lên, đu đưa rêm cả đầu, hơi tạt và hầm, bụi và cát thấm mùi khét thuốc đạn. Mo- ranh (một loại máy bay trinh sát gọi là tàu rà) vẫn rà trên đầu rất dai. Giữa hai đợt pháo mình nhô lên miệng hầm nhà trong xóm, bên kia sông cháy, tiếng nổ như súng thần công… Bến sông, chỗ thường đập dừa nát bét, dây lang (dây khoai lang) đánh đứt tung. Nhiều thân dừa cụt đầu giờ lại thêm mấy vết đạn nữa, vết hôm nay sát ngay những vết đạn lần trước”…. “Hoàng hôn hôm qua bộ đội địa phương xuất kích lặng lẽ dưới nhưng cây dừa cụt đầu” (Tr.36-37).
“Tối hôm nay HUIA vào ném đèn sáng, kiểm soát con sông Trường Giang ghê quá, 5-6 ngọn đèn dù lơ lửng, gió đưa dần về phía ngoài, kéo theo làn khói cong như một dấu hỏi ngơ ngác, sợ hãi”(Tr.88)
“Hố pháo chi chít hai bên đường. Tre gẫy cụp. Nhưng đã có những búp măng to, khoẻ, đâm thẳng lên trời với sức mãnh liệt, nom như những chiếc tên lửa đặt trên bệ phóng. Mo nang măng, xanh màu hoa lý. Những mo nang dưới gốc rơi ra, để lộ thân măng một màu xanh đậm, rất mướt, êm.” ( Tr.25)
“Từ ranh Lộc Sơn xuống đến Phú Thuận, những nhà mà chuyến đi trước mình nghỉ lại hoặc ghé vào đều đã cháy sạch, chỉ còn nền cháy đen… Sáng nay xe bọc thép từ khu công nghiệp chạy xuống đến nhà thờ tộc Hồ. Dân đã bị xúc hết… Con đường từ Xuyên Khương, Xuyên Phú, Xuyên Hoà xanh mướt. Cái mát của ngọn gió đồng bằng vào buổi chièu, và từ cái màu xanh sum xuê của khoai lang và đậu phụng, từ cái xanh mướt rượt của ruộng dâu tít tắp, của sắn, của ngô làm mình khoan khoái vô cùng. Lần trước mình qua đây vào một đêm mưa căng thẳng, chỉ có cái lạnh của mưa gió và sự im lặng cạm bẫy của những toán Mỹ phục kích, chỉ có ánh đèn sáng lập loè. Cho nên lần này mình có cái sung sướng của một người say sưa ngắm nhìn cuộc sống đang xanh tươi, nẩy nở.”(Tr.72)
Những đoạn văn trên được dẫn ra ngẫu nhiên không chọn lọc để thấy cái tâm tĩnh của người viết ra những miêu tả để nhớ, không để chứng tỏ. Và cả một tâm nhàn khó có được của những người cầm bút trong chiến tranh:…“Sang đây mình mới lại thấy cái ríu rít của cuộc sống như vui vầy. Các cô gái chưa chồng cười ngặt nghẽo, đấm lưng nhau thùm thụp, nói liến thoắng. Rất nhiều trẻ nít châm chọc, quấy rầy, la lối om sòm. Xen vào đó là tiếng đập xơ dừa vọng lại, dồn dập, tiếng gọi nhau thúc hối tiếp xơ, rủ nhau đánh dây”… “Buổi sáng rộn rã tiếng đập xơ. Khi nắng vừa lên, các lều đều đem những gánh xơ dừa đã giặt sạch phơi thành từng dây, xơ dừa màu vàng tơ óng ánh rất đẹp trong nắng sớm. (Mình không ngờ xơ dừa lại có thể có một màu đẹp như thế.”(Tr. 35)
“Khác với cánh đồng Đại Lộc, lúa tháng ba ở đây đã ngả màu vàng êm của lúa chín. Cái màu vàng mát như thảm, như lụa đang dập dồn uyển chuyển đó kéo dài đến chân đồi.” (Tr.73)
“Tâm nhàn” ở đây không phải là nhàn tản, ung dung của người đứng ngoài cuộc, mà là sự định tĩnh của tâm hồn người đang ở trong biến động. Nhờ vậy, dù người viết đang bị bối cảnh dữ dội cuốn đi, vẫn nhìn được những nét nhỏ bé, tinh tế của con người và sự sống. Tâm càng tĩnh, ngòi bút càng sâu; nhờ tâm nhàn nhà văn có thể đi vào tận cùng dữ dội mà vẫn tạo nên cái đẹp của văn chương.
“Mặc dù hôm qua địch bắn phá như vậy, bắt người và giết người, nhưng hôm nay vẫn ra biển rất đông. Không có thuyền, chỉ toàn thúng chài. Hình như tất cả thúng còn lại trong vùng đều ra biển cả. Thúng dàn thành hàng ngang tràn ra biển. Sóng dồi lên nhấp nhô lềnh bềnh như những chiếc phao đen của một cái lưới dài. Chưa kịp bủa lưới, người ta đã phát hiện ca có tàu đoan (tàu tuần tra) của Mỹ. Tất cả đều quay vào, thúng trượt trên đầu sóng ùa vào bãi cát. Tàu Mỹ bắt đầu bắn phá vùng dưới. Đạn đại liên 30 phụt ra đỏ lừ từng chuỗi dài bay vun vút vào làng. Có những đốm lửa bay cao lên khỏi ngọn dương. Súng nổ như người ta đang thổ vào cái thùng gì rất quái lạ, rất dữ.” (Tr.228)
“Ngoài bãi biển, người đi xúc ruốc đông đen đông đỏ. Người lăn ra sóng hấp tấp, quấn quýt. Giã (một loại lưới kéo) bây giờ chẳng mấy nhà có, hầu hết xúc bằng vợt, mà cũng chẳng có vợt tốt. Có người cắt cả ống quần… Trên bãi cát mênh mông, các bà phơi ruốc như đang vãi hạt. Ruốc phơi đỏ cả bãi cát. Ngoài bãi biển chộn rộn, tíu tít, người chạy đi thêm thúng rổ, người gánh đi kìn kịt. Trong làng lại vắng tanh, chỉ có những đứa bé dưới 10 tuổi vùi mình trong cát chơi đùa” (Tr.233)
Vào cuộc chiến khốc liệt, tâm tĩnh, tâm nhàn không phải cố mà được. Nếu không xem cái chết nhẹ tựa lông hồng có mà cố đằng giời. Hơn ai hết, Chu Cẩm Phong đã nhận thức điều đó. “Mình cũng đã nghĩ- nghĩ từ lâu rồi- trên đường đi công tác mình có thể ngã xuống như các đồng chí, bạn bè mình đã hy sinh. Nhưng mình hoàn toàn không e ngại.”(Tr.183) “Mình nghĩ điều này rất nghiêm túc. Nếu mình ngã xuống như Phương Thảo, Văn Cận, Xuân Quý, thì ba mình, nhất là mẹ mình sẽ đau khổ biết chừng nào. Mình biết điều đó. Mình là con trai được cả nhà yêu thương… nhưng dầu thế nào, mình cũng không xê dịch phương châm sống của mình.”(Tr.337).
Để đạt tới bậc chân tài, nhà văn phải biết giải dầu sương gió như Trần Bích San tiên sinh từng gửi gắm – ấy là dấn thân; còn dấn thân đến mức xem cái chết nhẹ tựa lông hồng như Chu Cẩm Phong tự nhủ – ấy là xả thân. Từ dấn thân đến xả thân là hành trình đưa người cầm bút tới giới hạn cao nhất của sự dấn hiến. Suy cho cùng, giá trị cao nhất của người cầm bút không đo bằng tài năng, mà bằng mức độ dấn hiến của họ với cuộc đời. Nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong là một minh chứng tiêu biểu cho quan niệm ấy.
Giá của dấn hiến có thể là cái chết, bù lại, sự dấn hiến đã cho nhà văn sự tĩnh tâm để chộp được những chi tiết văn chương có một không hai.
“Tối hôm qua mình và Quang Phong mò trong ánh sáng chạng vạng đến Phong Châu (Xuyên Hoá). Còn đang đi giữa đồng thì ca-nông, cối và các loại súng phía đường Kiếm Lâm nổ dữ dội… Đạn lửa lao vun vút nhằng nhịt, đại bác nổ chớp lửa, vả lại thêm trời mưa giông, chớp sáng chói mắt làm đường ruộng đã khó đi lại càng khó hơn. Nhiều lần hai đứa lạc. Nhiều lần phải nép xuống một bờ ruộng để tránh đại bác. Chốc chốc mình lại gặp vài nữ du kích khoác súng nai nịch gọn gàng đi trong đêm. Lại né mình tránh nhau trên một bờ ruộng, qua ánh chớp, mình nhận ra hình như cô nào cũng mỉm cười…” ( Tr.157)
Tôi không biết văn chương chiến tranh trên thế giới có chi tiết nào hay như câu cuối của đoạn văn này không?
“ Đêm nay lại có máy bay C47 quần gần như suốt đêm, thả pháo sáng và bắn đại liên cực nhanh như tiếng một máy cưa rít. Thật kỳ lạ, tiếng bom và tiếng pháo vừa dứt, con gà trống trong nhà cất tiếng gáy dõng dạc, sôi nổi, và tiếng đập cánh oai vệ, hào hứng. Lại có tiếng pháo. Con gà ngừng gáy. tiếng bom rền chưa dứt thì con gà lại gáy, tiếp đó là những tiếng gáy của gà hàng xóm, tiếp hơi truyền báo bình mình, tiếng gáy lan dần, rộn đến cuối xóm…“ một chân nó bị thương, đi khập khiểng hơi khó khăn nhưng nó không mệt mỏi, vẫn dùng cái chân bị thương đó để kiếm ăn rất chịu khó, và buổi bình minh nào cũng thức dậy vỗ cánh, gáy sang sảng rất đúng giờ.” ( Tr.79)
Văn chương thế giới đã có con chó Lassie của Eric Knight, con ngựa Black Beauty của Anna Sewell, con lợn Wilbur của E. B. White, Con thỏ Peter Rabbit của Beatrix Potter, Con mèo Garfield của Jim Davis…. Và giờ đây là “con gà trống chủ nhà” của Chu Cẩm Phong, mới chất liệu văn đã thấy cực thú vị.
4
Gần 500 trang sách với cả trăm nhân vật, mỗi người một dáng vẻ, một tính cách, một số phận, Nhật ký chiến tranh khiến người đọc càng đọc càng thán phục. Với số lượng nhân vật lớn và phong phú như vậy, Chu Cẩm Phong vẫn khắc họa từng người bằng những nét bút sắc sảo, không ai lẫn vào ai. Nhiều nhân vật chỉ hiện lên qua vài dòng ngắn ngủi mà vẫn có cá tính riêng, đủ để lưu lại rất lâu trong trí nhớ người đọc. Không khỏi giật mình nhớ đến tài dựng nhân vật của La Quán Trung.
Vẫn biết trăm nhân vật của Nhật ký chiến tranh không thể sánh được với ngàn nhân vật của Tam Quốc diễn nghĩa, nhưng nguyên mẫu của ngàn nhân vật ấy đã có sẵn trong lịch sử và tài hư cấu của La Quán Trung là bất tuyệt, ta cũng có thể nói: cả trăm nhân vật của Chu Cẩm Phong đều do chính anh tìm kiếm và phát hiện; tài phi hư cấu ấy cũng là bất tuyệt.
Hầu hết các nhân vật của Chu Cẩm Phong đều rất đẹp. Chỉ đôi ba người có tính cách chưa thật đáng mến, thậm chí đáng trách. Còn lại đều là những con người đáng nhớ, đáng yêu, đáng nể phục. Quý ở chỗ họ được nhà văn viết ra không phải để đăng báo, in sách Nhà nước, mà từ cái nhìn tâm đắc của một người dấn hiến dành cho những người dấn hiến, trong những trang nhật ký lặng thầm. Trên địa bàn Nam Trung Bộ quãng 1967-1971, những ai đã gặp Chu Cẩm Phong, dù chỉ một phút hay một giờ, đều được anh ghi lại đôi nét gắn gọn mà sống động đến lạ.
Một chàng trai chợt gặp. “…Phanh áo ngoài để lộ bộ ngực nở lồng căng trong chiếc áo lót xanh, quanh lưng chi chít lựu đạn. Mọi vật cần thiết cho một cuộc sống chiến đấu nằm gọn dính chặt vào chiếc xanh- tuy- rông (thắt lưng to bản có khoá đồng) và khẩu súng trên vai. Anh bước những bước dài đánh đường xa rất khoẻ, động tác dứt khoát, tư thế rõ ràng, khuôn mặt chan hoà ánh nắng chiều” (Tr.28)
Một cô gái mới quen. “Các chiến sĩ thì rất trẻ như mình đã gặp, tất cả đều xấp xỉ nhau, trên dưới 20 tuổi, trong số đó có Tăng, nữ chiến sĩ liên lạc của Thị. Gặp cô lần nào cũng vậy: quần xắn cao, xanh- tuya-rông đeo đầy lựu đạn thắt ngoài áo, chiếc áo màu cỏ úa bó sát người, nổi rõ bộ ngực trẻ trung, căng tròn khoẻ mạnh nở nang. Nòng khẩu carbine nhấp nhô sau vai, tự nhiên mình có cảm giác nòng súng đó rất tinh nghịch, có cái gì như hí hởn trên đường ra mặt trận.” (Tr.123)
Nếu biết trong văn chương, việc khắc họa nhân vật ác, xấu thường dễ gây ấn tượng hơn nhân vật tốt, đẹp, thì Nhật ký chiến tranh càng đáng nể. Gần như cả thế giới nhân vật trong tác phẩm đều là những con người tử tế, giàu lòng dũng cảm và giàu tình yêu thương, nhưng không hề đơn điệu. Mỗi người vẫn mang một gương mặt, một tính cách riêng, đủ sức ở lại lâu dài trong ký ức người đọc.
Ngay cả một nơi tưởng chỉ toàn công việc lặng lẽ như Tổ sản xuất và sữa chữa vũ khí được gọi là Xưởng quân giới, Chu Cẩm Phong cũng làm cho người đọc khó quên:
“Đặt trên một bãi cát trắng phau phau, dưới những bóng dương liễu Gió biển thổi lộng vào vào bóng dương, say sưa quấn quít với ngọn dương”. Ở đó có chín người, bảy nam: Dũng, Chè, Miên, Hai, Xuân, Măng, Ngọc và hai nữ là Hồng, Tiến. “Trong chín người đó, ai cũng có những đau thương dữ dội. Một quả bom đã cướp mất của Miên 4 người thân: cha, mẹ, hai con trai. Vợ anh bị thương hoá điên luôn. Bọn Nam Triều Tiên đã đến giết mẹ, 2 người chị và 4 đứa cháu của Hồng. Gia đình nào cũng bị xúc tát, chạy tan tác khắp xứ, không tin tức….” (Tr.89).
Và đây, những chân dung kí hoạ của Chu Cẩm Phong về những du kích tháo gỡ bom mìn “có những đau thương dữ dội”, ở nơi sống chết bất kì vẫn toát lên vẻ ung dung, tự tại với những nét duyên dáng rất riêng:
Tiến: “Năm nay 18 nhưng cao lớn, động tác lúc nào cũng ngượng nghịu, hai tai đeo hai chiếc khuyên to, cặp mắt lúc nào cũng mở to như ngạc nhiên. Thỉnh thoảng một ánh tinh nghịch. Mái tóc hơi dày bồng lên làm chiếc mũ giải phóng quân lúc nào cũng không ôm chặt đầu, muốn bật ra. Vành mũ hơi cứng nên trông rất ngộ” ( Tr.92.)
Xuân: “Nhỏ hơn tuổi hơn hết. Người cao to, mặt rất non, trong cái dáng điệu ngồi bặm môi, hai mắt ngó chăm chăm vào mối gò gần như trợn, thật đáng yêu. Thỉnh thoảng ai nói đùa một câu gì, ngẩng lên cười góp bằng nụ cười nở nang rồi lại cúi xuống cặm cụi làm. Mái tóc không rẽ đường ngôi phủ xuống trán vừa chấm đầu chân mày, mái tóc cân phân, ngay ngắn.”(Tr.92.)
Hai: “Mặt rỗ lấm tấm, môi dưới trề ra như lúc nào cũng chê bai một việc. Cặp mắt một mí hơi xếch, khi cười nhắm tít lại thành hai vệt thẳng. Tinh nghịch hay pha trò châm chọc để gây cười… cậu ta chẳng lúc nào buồn, và không bao giờ giận ai.” (Tr.92.)
Với vẻ ngoài dễ thương mến lấy, ít ai biết họ là họ là những nhân vật toả sáng khác thường trong chiến tranh:
“ Xuân và các bạn giã thuốc (bom) mấy ngày trường, mệt lả ai cũng hốc mắt sâu hoắm, thâm quầng, mắt trắng giã mặt trắng bệch da tái nhợt, hai cánh tay thuốc ăn đã rần rần như muốn nứt ra. Toàn người vừa rát, vừa rã rời, miệng khô cứng đắng ngắt. Những ngày giã thuốc không ai ăn được cơm, cả ngày ăn không hết một lon gạo, người gầy rộc đi. Lúc đầu còn giã chạy ba, rồi chỉ còn giã chaỵ đôi, rồi các bạn ngã hết, chỉ còn Xuân nhẫn nại giã những chiếc chày chắc nịch. Bỗng dưng tay chân Xuân co rút lại, ngã vật xuống. Xuân nằm dưới cát, cát ban đêm mát lạnh dần dần làm Xuân tỉnh dậy, Xuân lại lồm cồm vịn vào tai cối đá đứng lên, cầm chày giã thuốc chày ba…”( Tr.92.)
“Hồng có khuôn mặt trái xoan, mái tóc hơi gợn một đường sóng và bóng nhẫy.
Kể thì khuôn mặt đó hơi nhỏ so với bàn tay. Đôi bàn tay Hồng to và khoẻ. Cũng lạ, bàn tay đó quen cầm cuốc, thế mà cầm búa rất thạo. Lựu đạn do Hồng gò, dập còn đẹp hơn lựu đạn của tỉnh, hơn lựu đạn bạn nam. Trong nhát búa đó hình như có một sự vuốt ve trìu mến, thương yêu mà chỉ có trái tim, tấm lòng của người phụ nữ mới có.”…“ Hồng là người con gái đầu tiên của tỉnh cỡi lên trái bom 500 kg bí mật ấy tháo tung ra như cởi một cái áo”.. “ Nhiều mẹ đi qua cái hố bom sâu hoắm đó, nhìn thấy cô gái mảnh dẻ, nhỏ nhắn ướt đẫm mồ hôi dưới nắng hè, cái chết không biết khi nào, các mẹ chảy nước mắt ròng” (Tr.96)
Đó là những du kích nơi “hậu phương”, còn đây là nơi “mặt trận”: Gom góp những đoạn nhật kí các trang 123- 131 ta có kí sự về cuộc Tổng tiến công Mậu Thân đợt 2, bắt đầu đêm 3 rạng 4.5.1968, một kí sự quý hiếm. Viết về Mậu Thân 68 rất nhiều nhưng hầu hết các ký sự đều viết ở giai đoạn 1 (từ đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968 đến 25 tháng 2 năm 1968), sau đó không còn thấy một ký sự nào nữa, thậm chí nhiều người không biết có giai đoạn 2.
“Hơn 18 giờ một tí chúng mình ngồi thuyền sang sông.
Từ lúc mặt trời lặn, buổi chiều về êm ả lạ thường, không có một tiếng súng, bầu trời thanh tịnh, mặt sông chỉ khẽ sóng sánh. Hàng dừa phía dưới kia lá còn xanh, Không hiểu sao mình thấy nó giống một cô gái đứng xoả tóc với vẻ tư lự… Sắp đi vào một trận tổng công kích lại có một buổi chiều đẹp và êm ả vậy.” ( Tr.123)
”Từ hôm qua ngày hôm nay, trời oi bức lạ như sắp có một cơn giông dữ dội, sắp nổ ra những tiếng sét và những tia chớp rực rỡ… mình đang nóng ruột chờ đợi cái giờ nổ ra tiếng tiếng sét và tiếng chớp là những ánh sáng rực rỡ ấy.”… "Từ oh đến 1h đêm nay, toàn miền sẽ nổ súng mở đợt tổng tấn công mới vào các sào huyệt của giặc.” ( Tr.124)
“Trời nhá nhem tối, bộ đội tập hợp trên một cái sân nhỏ hẹp nghiêm trang. Đại bác từ bãi pháo Cẩm Hà bắn từng 5 trái một vút qua đầu. Đồng chí đội trưởng nhắc lại lời thề lần cuối trước khi bộ đội xuất kích. Anh không hét lớn, nói điềm tĩnh, khi nào luồng đại bác rít qua, anh hơi dằn lại một tí để tiếng nói đanh lại cho dễ nghe.” ( Tr.124)
“0 giờ 30, súng trong Hội An bắt đầu nổ, tiếng súng AK nhiều nghe gần xen với tiếng nổ lớn của bộc phá, rồi tiếng đại liên, từng tràng dài. Phía Đà Nẵng súng lớn nổ rất dữ. Pháo sáng giăng đầy trời, từ quận Hiếu Nhơn đến Hội An, tiếp trên kia, Câu Lâu, ra Vĩnh Điện, Đà Nẵng, pháo đèn sáng rực. Chiếc C47 lập loè hai ngọn đèn đỏ thả đèn sáng, 4 viên đạn AK như 4 cục lửa bay vút lên theo một đường thẳng rạch bầu trời xẹt qua chiếc máy bay. Thằng giặc vội tắt đèn bay cao lên trốn trong tăm tối.” ( Tr.124-125)
Có cảm giác như ta đang gặp lại ký sự Trận Phố Ràng của Trần Đăng hay Cửa Thép của Nguyễn Khoa Điềm, những ký sự đặc sắc bậc nhất trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hơn thế nữa, “Ký sự Mậu Thân” (Tên tạm gọi) của Chu Cẩm Phong có nhiều nhân vật hơn, đặc sắc hơn.
“Đêm hôm đó. Sương (B trưởng) và Hương mặc áo quần tụi lính đột nhập vào thị xã (Hội An). Đáng lẽ hai đồng cùng đánh vào cơ quan CIA nhưng các anh phát hiện một ổ ác ôn nằm sâu trong Thị xã cách biệt hẳn những điểm tấn công của đơn vị. Hai đảng viên dự bị đó đã đi vào chùa Bà dùng 40 lựu đạn đánh diệt 60 ác ôn và tiểu đội cảnh sát chiến đấu. Hai đồng chí hy sinh luôn trong đó. Bọn địch đem phơi xác hai anh, nhưng đồng bào Thị xã đã lấy đem chôn.”(Tr.128)
“ Cũng trong đêm đó, một mũi đánh vào toà nhà bọn CIA. Các chiến sĩ mật tập qua 5 lớp rào. Xong 16 tuổi mảnh khảnh, nhỏ nhắn như một thiếu nhi quàng khăn đỏ. Giữ một khẩu B40 như những bắp chuối màu vàng. Cái nhà mái bằng đồ sộ trước mặt. Trong đó đang đầy lúc nhúc bọn tình báo nước ngoài (Theo con số nắm được, trong đó có 72 tên). Kê khẩu súng lên vai Xong bắn hai phát…. ngôi nhà sụp hẳn. Một chiếc xe bọc thép gần đấy bắn xả đại liên. Xong chuyển khẩu B40 về chiếc xe tăng. Chiếc xe bốc cháy. Lại có chiếc xe khác xuất hiện, chúng bắn đại liên và ĐK ra. Hai đồng chí hy sinh, hai đồng chí bị thương. Một viên đạn bắn ngay trước mặt Xong. Đất vào đầy miệng. Xong biết sức mình chỉ bắn được 4 phát là cùng, phát thứ 4 muốn để giành cho ngôi nhà thứ hai. Xong cầm thủ pháo và lựu đạn trườn lên sát chiếc xe bọc thép. Xong phá huỷ khẩu đại liên và khẩu ĐK. Xong bò đến hàng rào, leo lên một bờ đất, gác khẩu súng vào rào Xong mới phát hiện viên đạn vặn chưa đúng khớp. Xong bình tĩnh nhảy xuống lắp lại rồi lại leo lên. Phát đạn nổ, vật ngã Xong xuống, nằm thiếp đi. Trong cơn nửa mê nửa tỉnh Xong cảm thấy tai mình điếc đặc, cổ rát rạt như muốn chảy máu, mũi khét, miệng đắng. Người mệt lả nằm sóng xoài. Lần đầu tiên Xong bắn cùng một lúc 4 quả B40. Đất ẩm sương đêm làm Xong tỉnh dần. Xong nghe văng vẳng tiếng đồng chí mũi trưởng: “Đồng chí Xong, mục tiêu nhà bằng, bắn một phát tiêu diệt.”… Bất thần Xong vùng dậy, nhảy lên bờ kê khẩu súng vào rào: Lửa phụt. Toà nhà đổ sụp. Xong ngã xuống đó.” (Tr.129)
Xong có lẽ là nhân vật khiến người đọc khó tin nhất trong Nhật ký chiến tranh. Ít ai hình dung một người có thể bắn liên tiếp bốn quả B40 trong một trận đánh, chứ chưa nói đến năm quả. Nhưng người đọc vẫn tin. Bởi từng chi tiết đều mang dấu ấn của sự thật, khó có thể là sản phẩm của hư cấu đơn thuần.
Không phải sự phi thường tự nó tạo nên sức thuyết phục, mà chính những chi tiết chân thực của đời sống đã nâng đỡ và làm nên sức thuyết phục ấy. Nhân vật Xong là kết quả của một ngòi bút biết tôn trọng sự thật, biết phát hiện cái phi thường trong con người bình thường và ghi lại nó bằng những chi tiết chân thực của đời sống.
“Ký sự Mậu Thân” còn có Thời “Vẻ đài các và kiêu kỳ nhưng đấy là cô gái một mình trong đêm bị đắm thuyền trên sông Cái, đã vừa bơi vừa kéo thuyền và gùi vào bờ.” (Tr.130).
Có anh du kích "một mình đánh vào hang ổ bọn “Bình Định”. Bất ngờ gặp “thằng ác ôn ôm súng ga-răng đi tuần. Anh biết các đồng chí các mũi chưa phát triển sâu được nên chưa thể nổ lựu đạn, nhưng cũng không thể bỏ trôi thằng này, hắn sẽ thọc sườn và bọc hậu các đồng chí phía trước. Tính toán rất nhanh, anh nhảy ra, vẫn hai quả lựu đạn đã tháo chốt trên tay, anh ôm cổ nó, đút đầu gối vào háng nó, anh dùng hai nắm tay riết cổ tên giặc.” (Tr 130-131)
Có Tạ “trung đội trưởng bộ đội, ngồi nghe chuyện này cứ cười híp mắt, gật gù khen anh du kích bình tĩnh gan dạ. Nhưng chính anh là người rất gan dạ. Trong trận đánh đêm qua, mình anh đã làm một mũi độc đảm đánh vào nhà này nhà khác, đánh toàn lựu đạn, giết được nhiều bọn “bình định”.(Tr. 131)
Có chị ở vùng yếu Quảng Đà đi cứu thương, về nhà con nhỏ chết vì bị thương mất máu, khát sữa. “Trong đêm chị ôm con đi chôn. Vì có điệp, chị bị bắt, chúng kết tội đã giấu thương binh “Việt Cộng” để con chết. Chị trốn ra được mang theo 5 quả lựu đạn. Chúng đuổi theo, chị chống trả, giết được 8 tên, chị bị thương. Người ta khiêng chị vào trạm xá, ở đây chị gặp lại đồng chí thương binh chị đã cứu.” (Tr.126).
Có ông già Quảng Ngã "đi tải thương, nghe tin nhà ông bị cháy, vợ và hai con bị thương ông vẫn không về nhà, ông nói:"Nhà tôi đã vậy rồi, giờ phải lo cho anh em bộ đội trước.” Ông khiêng thương binh lên đến ranh (Ranh giới căn cứ) rồi mới quay lại.”
Biết bao chất liệu văn chương để tạo ra những tác phẩm hay.
Những nét thô tháp không hề trau chuốt của ký sự này cho thấy nhà văn không cần làm cho con người lớn hơn sự thật; chỉ cần nhìn thấy và ghi lại đúng cái lớn lao vốn có ở con người. Đó cũng là phẩm chất đáng quý của văn chương phi hư cấu: sức mạnh không đến từ sự hư cấu mà từ khả năng phát hiện và chứng thực sự thật. Tài năng của người cầm bút trước hết nằm ở khả năng ấy.
“Ký sự Mậu Thân” chỉ là chuyện của 40 ngày trong năm 1968. Chu Cẩm Phong đã sống 1390 ngày ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ, bao nhiêu ngày là bấy nhiêu chuyện. Thú thật bất kỳ chuyện nào của Nhật ký chiến tranh tôi cũng muốn chép ra đây. Và cũng thú thật, tôi chưa từng đọc cuốn sách nào mà mỗi trang đều khiến tôi muốn chép lại như Nhật ký chiến tranh.
Đây là câu chuyện có thể dựng được một phim truyện dài về một tình huống đặc biệt trong chiến tranh, khoảnh khắc phát lộ vẻ đẹp con người: Câu chuyện cả đại đội chiến đấu cho sự ra đời của một đứa bé.
“Trương Văn Hoà, nay là huyện đội phó, trong trận đánh tập kích đồn Bầu Sấu; lúc rút lui, đạn và pháo bắn rát. Lúc chạy lướt qua một nhà nọ, anh phát hiện một người đàn bà nửa quỳ, nửa nằm, quằn quại ngay ngạch cửa. Người đàn bà đang chuyển bụng đẻ. Xung quanh không có ai.. Anh gọi anh em lại, cho bố trí tất cả để chặn địch bảo vệ cho người mẹ này. Và chính tay anh, đôi tay vừa xả từng tràng tiểu liên vào địch, còn khét mùi thuốc súng đã đỡ em bé, khai sinh một cuộc đời, đón một con người vừa ra đời. Các bạn anh cầm súng nằm ngoài hồi hộp lắm. Bà mẹ sau này biết ơn anh. Nhưng chuyện này anh không dám kể trong các đại hội anh hùng, anh bảo rằng dị quá…” ( Tr.161)
Trích dẫn đã dài tôi vẫn không muốn bỏ qua chuyện của chị thôn Ba Cẩm Thanh, một phụ nữ xứ cát trong hoàn cảnh chồng Bắc vợ Nam thời “diệt Cộng” của Ngô Đình Diệm.
“Chồng chị kháng chiến trước (tức thời kháng Pháp) cũng là bộ đội Thị, anh đi tập kết lúc chị có mang hai tháng. Ở nhà chị vừa đẻ được một tháng thì chúng bắt hai mẹ con ra phơi nắng suốt ngày nọ qua ngày khác, bắt chị ly dị chồng tập kết. Chị bồng con ngồi giữa nắng tháng 6, chiếc áo bà ba đen nóng rực như miếng sắt nung đỏ áp vào da thịt chị, lưng chị phồng lên dộp ra. Chị ôm con vào lòng, cúi gập người, cố lấy thân mình che nắng cho con, đứa bé đỏ hỏn vẫn nhắm nghiền cặp mắt khóc thét đến tắt cả tiếng. Chị không khóc mà nước mắt cứ trào ra vì căm giận và xót thương hòn máu của chồng để lại. Nước mắt chị nhỏ xuống mặt con, chị không lau chùi, mong nước mắt mình, nước mắt của người mẹ sẽ làm dịu bớt cơn nóng thiêu đốt. Nhưng thực ra nước mắt chị cũng nóng bỏng. Những ngày sau nước mắt chị cũng khô. Chị cứ ngồi vậy cúi gập người xoã tóc che chở cho con, quyết không ký giấy ly dị…. Vào mùa đó bắt đầu có những trận mưa giông, mưa xuống, người chị bốc hơi ngùn ngụt còn nóng hơn cả lúc nắng. Những vết phổng trên lưng vỡ ra, lột từng lớp da, chiếc áo bà ba dính đen vào lưng rát bỏng.” ( Tr.127)
Chuyện có thể viết được một cuốn tiểu thuyết về số phận người phụ nữ xứ cát vùng duyên hải Nam Trung Bộ trong chiến tranh bị dồn đến tận cùng thử thách: bị kẻ thù hành hạ, ép buộc từ bỏ người chồng và phản bội nghĩa tình, nhưng họ vẫn lấy tình mẫu tử làm điểm tựa, lấy lòng thủy chung làm sức mạnh để vượt qua đau đớn, giữ gìn mái ấm và bảo toàn phẩm giá con người.
Câu chuyện khốc liệt, bi thương lại có cái kết happy end, cả dễ thương lẫn ngậm ngùi:
“Thật lạ, bị hành hạ, bị đày đoạ như vậy, đứa bé vẫn không chết. Lớn lên ít tuổi đã biết giúp mẹ làm ăn, ngày ngày đi đào cua, đi mò tôm. Nhà nghèo, em không được bảnh bao như những đứa khác. Ngày tết em nói với mẹ: “Mẹ hí, mấy đứa nó có cha, ngày tết mặc áo quần mới đẹp. Con không cha, mặc thế này cũng được. Con răng cũng được.” Nghe con nói chị ôm con xiết chặt muốn khóc. Chồng chị hiện đang học ở Bắc Kinh, anh gửi về mấy lá thư và ảnh nữa. Chị kể về đứa con: “13 tuổi mà hắn đọn lắm anh à. Tại khổ quá. Suốt ngày trời nắng đi mò ngoài đồng, ngoài sông giúp mẹ. Có tí tuổi rứa mà thương mẹ lắm, hắn đã quyết làm chi rồi thì dầu ai ngăn cấm thế chi cũng cứ làm. Hắn bảo tôi: “Con mơ ba về để con nhìn ba một cái cho sướng.” (Tr.127-128)
Chất liệu văn học mà Chu Cẩm Phong để lại cho đời thật quý hơn vàng. Những chất liệu không thể hư cấu, bởi hiện thực đã tạo nên những con người và hoàn cảnh vượt ra ngoài sức tưởng tượng của hư cấu. Đó chính là tính độc nhất của hiện thực
.5
Trong văn học kháng chiến, không hiếm những hình tượng người dân anh hùng như Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, anh Núp trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc... Khác với cách xây dựng những nhân vật lớn qua các thiên truyện dài, Chu Cẩm Phong nhiều khi chỉ cần vài dòng ký họa cũng dựng lên được những con người bình dị, chân quê. Ít nét mà giàu sức gợi. Nhờ đó, những con người tưởng như vô danh trong cuộc chiến vẫn có một đời sống riêng trong trang viết, để rồi sống mãi trong ký ức người đọc.
Chị Tám Mừ: “Chị cụt chân trái, cưa trên gối… do đạn đại bác từ Hội An bắn ra từ hồi chống Pháp. Xứ nước mặn thừa ánh nắng này đã nhuộm da chị một màu đen…Lần đấu tranh nhập Thị nào chị cũng chống nạng đi trước đoàn quân, lẫm liệt, linh hoạt phi thường.” ( Tr.113). Với một câu Chu Cẩm Phong đã đóng đinh trí nhớ người đọc hình ảnh này.
Anh Là, một du kích mở bom khét tiếng lại càng khó quên: “Mới gặp anh Là người ta sẽ ngỡ là rất hung dữ, tính tình nóng nảy, thích ồn ào, xô bồ. Bởi vì anh cao lớn gân guốc, cặp mắt hơi to lồi, đôi lông mày rậm rạp rất to bản. Anh lại mới cạo trọc, nên càng coi bộ dữ tợn. Nhưng bắt đầu nói chuyện với anh, mình nhận ra ngay, con người gân guốc, đồ sộ ấy lại hiền lành và có tính bẽn lẽn đáng yêu. Ngồi họp hoặc học tập chính trị, anh cứ ngồi im lặng bó gối chăm chú nghe người khác phát biểu. Vừa nghe mình hỏi thành tích diệt địch của anh và tổ công binh, anh giãy nãy lên như người mắc phải lửa, vội vàng từ chối: ”Dạ không có anh ạ, dạ không có chi mô.- Nói rồi anh liền đi mở bom mất.”
Trước đây đã có một lần cũng như vậy, có đoàn quay phim về, xã gọi anh ra để quay phim, anh cũng không chịu, lẻn đi, anh nói: “Biểu đi mở bom thì đi, đi quay phim thì chịu” (Tr.119). Một câu nói mộc mạc đã khắc họa trọn vẹn tính cách của nhân vật.
Bốn bà mẹ Binh Dương, những tấm gương sáng của xứ cát anh hùng, mỗi bà một nét vẽ đúng một câu: “Bà Hoằng miệng không còn cái răng nhưng cặp mắt vẫn sáng, ngồi nói chuyện một lúc phải nằm xuống nghỉ. Bà Quyền miệng móm, đầu quấn một chiếc khăn nâu, vừa ngoáy trầu vừa kể chuyện. Bà Toan dắt một cục thuốc dưới môi nói sang sảng cười ha hả như đàn ông. Bà Bân tóc bạc trắng gần hết nhưng răng còn nguyên, đen nhánh, người đầy đặn phúc hậu. Các bà lạc quan sảng khoái vô cùng.”(Tr.219)
Bà mẹ thứ năm không có mặt ở đó, là bà Bảng. Bà đã hy sinh. “Đây là một bà mẹ kiên cường. Chồng đi tập kết, bà ở nhà vẫn nuôi cán bộ, sau ngày giải phóng tham gia công tác tích cực. Mình đã nghe bà con làng xóm thương tiếc:“Nhà đó mới là nhà cách mạng toàn gia. Bà không có ai bì, đấu tranh sản xuất gì cũng vậy. Những trận càn ác liệt hoặc trong thời gian pháo địch bắn phá dữ, mọi người còn sợ sệt bà đã một mình đi ra đồng sản xuất.” (Tr206)
“Bà làm việc đồng áng không thua một người đàn ông nào, làm tổ trưởng tổ đổi công, bà quán xuyên tất cả công tác trong xóm, nuôi cán bộ, giặc oanh tạc đánh phá ác liệt đến mấy cũng không rời mảnh ruộng. Gặp ai làm việc gì cũng giúp đỡ, đến nhà ai chơi thấy việc là xắn tay vào làm giúp. Có lần bà con đang cấy, tàu rà quần dữ quá, người ta bỏ mạ đi hết, bà xuống cấy giúp: “Cấy cho ai cũng là sản xuất”, bà kêu gọi động viên người khác xuống làm.” ( Tr.213).
Những năm 1965-1968 ở Trà Vinh có “người mẹ cầm súng” là bà Út Tịch . Ở Quảng Nam cũng có một “người mẹ cầm súng” là bà Bảng-Vương Thị Cận. Tôi không dám so sánh chiến công của hai bà nhưng rất ngạc nhiên trong khi bà Út Tịch được phong anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân từ năm 1965, còn bà Bảng thì chưa. Bà mới được phong Mẹ Việt Nam anh hùng vì có 5 con tham gia bộ đội, du kích, ba người con là liệt sĩ. Chính bà cũng là liệt sĩ. Có lẽ chiến công của bà đến nay vẫn còn nằm lặng lẽ trong Nhật ký chiến tranh, tác giả thì đã mất. Đây là một đáng tiếc. Gia đình lớn của bà Bảng cả nội ngoại trong chiến tranh chống Mỹ có 16 liệt sĩ và 3 bà mẹ VNAH. Một đại gia đình cách mạng đặc biệt.
Vẫn còn nhiều người có chiến công còn nằm lặng lẽ trong Nhật ký chiến tranh như bà Bảng. Ông Siêng là một thí dụ. Ông là nhân vật độc đáo nổi bật của xứ cát Nam Trung Bộ trong chiến tranh.
“Ông siêng trong việc nhà, cả trong việc nước. Mặc dầu ông chỉ là một người dân. Máy bay thả bom, ông là người đầu tiên nhảy lên khỏi hầm đi thăm xóm thôn, chạy chữa, đào cứu những người bị sụp hầm, dù hầm đó tít tận ở trong vùng. Gặp bà con làm gì cũng giúp. Không có cuộc đấu tranh chính trị nào là không đi. Đã 63 tuổi rồi mà có gánh gạo đột xuất lên huyện, cũng chống gậy đi trắng đêm, về nhà hôm sau ê ẩm, có lần đột xuất khác cũng tham gia.
Đi sang Xuyên Thọ, Xuyên Nghĩa gặp bọn Nam Triều Tiên, dù biết bọn này rất dã man, ông cũng lăn vào cuộc. Ông nhận làm chủ một gia đinh, thắp hương đèn lên cúng, gọi số chị em phụ nữ, đồng bào hoảng sợ lại, đấu tranh không cho chúng hiếp, chúng giết.”
“Mái tóc bạc gần hết, chòm râu bạc như tóc. Ông bị bọn Mỹ bắt đánh đập tra khảo. Chúng ném sấp ông vào bụi gai lưỡi long, chặt các bàn gai khác sắp lên lưng rồi lấy súng dần. Gai châm vào người gãy nhám xì…
Sau trận càn 31, ông đã để ra hai ngày đêm thu dọn chiến trường, chôn cất tử sĩ, đêm nào cũng đến 12 giờ khuya mới về.. Không ai bảo, không ai phân công. cả. Tay xách chai rượu, một chai thuốc xoa bóp, uốn nắn xác các chiến sĩ, rồi chôn cất. Anh em hy sinh dưới công sự, ông không yên tâm, khó mấy cũng phải đào lên. Về sau chính quyền xin thanh toán lại phí tổn lo chôn cất 20 anh em, ông nói: “ Tôi chôn cất con cháu tôi thì mắc chi phải trả.”
Một lần địch (lính Mỹ) xô ông xuống hầm pháo, hai thằng đứng hai miệng hầm ném hai quả lựu đạn xuống. Chúng cười, nói: Ba Xoàn (Ba Siêng) lên đi!- Chúng nói từng tiếng một. Không thấy ông lên, chúng cười, kéo nhau đi…Anh em chiến sĩ đã phù hộ ông, nên hai trái lựu đạn nổ mà ông ngồi trong ngách không chết.” ( Tr.233-235)
Để kết các nhân vật như ông Siêng, bà Bảng…, Chu Cẩm Phong không một lời bình, anh dẫn lời một người khác: “Anh Thái , thị đội trưởng tâm sự : “Mình tham gia cách mạng cũng lâu, được giáo dục cũng nhiều, nhưng liên hệ lại thấy mình không bằng quần chúng, còn thua xa.”(Tr.126)
Rất khó tìm được trang viết nào về vùng đất này khắc họa được một chân dung như ông Siêng, bà Bảng của Chu Cẩm Phong, kể cả văn chương hư cấu như Đất Quảng của Nguyên Ngọc, Gia đình má Bảy hay Mẫn và tôi của Phan Tứ. Có lẽ người ta khó tin trên đời có một người như vậy. Cái chính là các nhà văn không tìm gặp được nhân vật của mình được như Chu Cẩm Phong.
Ngay cả những người không tên tuổi, không thành tích, sống rất bình thường, hàng xóm cũng ít biết đến, vẫn được Chu Cẩm Phong dựng nên những nhân vật đáng nhớ, miễn là họ có một dáng vẻ hay một tính cách khác với những người xung quanh. Khả năng quan sát của anh sắc bén hiếm có.
Một ông Kỉm “đã già, không phải yếu hẳn, nhưng lại lụm cụm. Ông ngồi cứ cúi xuống đầu gối, im lặng, cái gì cũng rờ mó coi thử, coi lặng lẽ không bình phẩm một tiếng. Ít khi nói nhưng mỗi lần nói đều đột ngột bất ngờ làm người khác cười ngặt nghẽo.”(Tr.136).
Một bé Xí “6 tuổi biết đi nhổ cỏ, theo con Hoa chị hắn đi giữ bò. Đi, mình nhớ nhất con Xí, lúc nào cũng quấn bên mình, ôm cổ, ôm tay mình. Có bữa mình hôn nó, bảo nó: “ Hôn anh một cái”, nó rúc đầu vào bụng mình nói: “Em con nhỏ, em không biết hun” (Tr.154-155)
Một cậu bé 13 tuổi tên Nhạn ( Con trai út bà Bảng): “Trong nhà có Nhạn là con trai, nên tuy còn nhỏ tuổi cũng đã tỏ ra đàn ông trong gia đình. Cậu ta tỏ ra lanh lợi, thuộc rất nhiều thơ hay của Tố Hữu, Thu Bồn, có giọng ngâm rất tốt, rất ham học, cứ ước mơ học đến đại học.. Cậu ta hỏi mình: “ Em không biết ra sao- người học lớp 4 có người học lớp 7 dạy, người học lớp 7 có người học lớp 10 dạy, người học lớp 10 có ngươi đại học dạy. Người dạy đại học là ai mà giỏi rứa?”( Tr.206)
Một ông Đụng: “Ông cao lớn nhưng không phục phịch, nhanh nhẹn, da bóng. Cười nói ồn ào với giọng khàn khàn. Mặt lúc nào cũng đỏ và mắt lúc nào cũng dữ tợn. Ông uống rượu như uống nước lã và nhai trầu như đàn bà. Rất hay nói hoang với giọng hiền lành. Ông đối xử với con cái thiệt lạ, chiều nay mua rượu về, ông mời mình uống, vợ uống, mời cả bốn đứa con uống- từ đứa lớn 15 tuổi đến đứa bé mới biết đứng chựng. Ông luôn miệng nhắc, uống đi con, uống đi con.” ( Tr.227)
Một đoạn thoại vợ chồng ông Đụng. Địch bao vây cấm biển. Ông Đụng vừa bị địch vây bắt đuổi bắn. Vừa thoát chết, ngoi lên bờ, địch bỏ đi ông lại ra biển. “Tôi đã bảo sáng nay đừng có đi- Bà Đụng cằn nhằn. Đừng đi để ở nhà ngủ với mụ hả?-Ông cười, mọi người cười.” (Tr.230). Đọc tới đây ai cũng phải tủm tỉm cười. Nếu không có căn tài văn chương người ta thường bỏ qua những chân dung và nhưng câu thoại như thế này.
Chuyện vợ chồng già yêu thương nhau không hiếm nhưng chuyện ông chủ nhà yêu thương vợ qua Chu Cẩm Phong thì thật thú vị, nếu không muốn nói thật đặc sắc:
“Ông chủ nhà cặp mắt hơi lem nhem, nhưng tánh tình vui vẻ. Bà vợ đi buôn ở chợ Vĩnh Điện đến tối mịt mới về. Ông ngồi ở gần giàn bí nhìn ra cửa đợi vợ quên cả hút thuốc sau bữa ăn. Có lẽ ông sốt ruột và lo lắng lắm, thỉnh thoảng ông lại nói một mình:
- Mị (lạ) thiệt, bữa nay về tối về hung ác.
Mãi lâu lắm ông mới kêu lên một tiếng reo:
- À, về rồi.
Mình nhìn ra ngõ tối om om, chẳng thấy gì cả. Mãi một lúc sau mình mới thấy một cái bóng áo trắng lờ mờ, vào gần dần ánh đèn hắt ra, mình mới thấy đôi giỏ bằng dây kẽm, trên một chiếc giỏ có úp một chiếc nón đã cũ. Mình phát biểu rất vui ghẹo ông già:
-Chịu chú đó nghe. Cháu nhìn miết mà không thấy, chú nhìn thấy thím từ đầu tít ngoài xa.
- Ông chỉ nghe hơi cũng biết chứ cần gì thấy- Quýt góp.
Ông già cười sung sướng vui vẻ.
- Rứa chơ răng, các chú không được như tôi đó chớ.
Ông lật đật dọn cơm, đem thịt trâu xào ra cho vợ. Đến lúc bà vợ ngồi ăn ngon lành ông mới cuốn một điếu thuốc lá to hút phì phèo. Vừa hút thuốc vừa nhìn chừng vào mâm cơm để tiếp thức ăn.”
Hình ảnh ông già “nhìn ra cửa đợi vợ quên cả hút thuốc”- “Vừa hút thuốc vừa nhìn chừng vào mâm cơm để tiếp thức ăn.” mới đáng yêu làm sao. Câu chuyện vốn rất bình thường, chỉ vài chi tiết được chọn đúng chỗ đã khiến người đọc ngỡ trên đời chỉ có một ông già yêu vợ độc đáo đến thế. Càng thấy rõ khả năng lạ hoá đời thực của Chu Cẩm Phong thật đáng nể.
Nếu còn sống đến hôm nay, với tài năng văn chương hiếm có thể hiện qua Nhật ký chiến tranh, Chu Cẩm Phong hẳn sẽ còn viết nên nhiều tác phẩm phi hư cấu lớn cho văn học Việt Nam. Sự ra đi khi tài năng đang độ chín của anh không chỉ mất mát một con người, một người lính, mà còn là mất mát của nền văn học nước nhà. Thật tiếc quá. Ngày nay đọc lại Nhật ký chiến tranh, niềm tiếc nuối ấy càng da diết.
6
Văn học phi hư cấu là kết quả của sự gặp gỡ giữa hiện thực và tài năng của người cầm bút. Chỉ khi sống đến tận cùng hiện thực, dấn thân vào đời sống, trung thành với sự thật, có khả năng phát hiện bản chất của cuộc sống và chuyển hóa nó thành nghệ thuật ngôn từ, người viết mới có thể tạo nên những trang phi hư cấu có giá trị lâu bền.
Lần theo Nhật ký chiến tranh mới thấy Chu Cẩm Phong và các nhà văn cùng thời ở Nam Trung Bộ như Bùi Minh Quốc, Dương Thị Xuân Quí, Thanh Quế, Hồ Duy Lệ, Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Hải Học, Cao Duy Thảo… đã sống một cuộc đời có đủ bốn chữ Đ: đi, đói, đau, đạn. Đó là cuộc sống tận cùng của gian lao và hiểm nguy: đi không ngừng, đói triền miên, đau ốm dai dẳng, bom đạn vây bủa, cái chết rình rập.
Đi, tất nhiên là đi bộ. Lặn lội từ rừng chiến khu về vùng sâu kéo dài tưởng như vô tận.
Khi về Gò Nổi. “Những con đường làng ở Gò Nổi đều giống hệt như nhau: đường đất trắng mốc thếch vì thuốc bom và đại bác.” (Tr.79)
“Qua đường chừng 100 mét, địch bắt đầu bắn cối. Chúng bắn hàng tràng về phía chúng mình, cách không đầy 100 mét, tất cả nằm ép xuống ruộng nước sau một cái bờ ruộng cao hai tấc. Mảnh rơi lỏm bỏm xung quanh, rất gần, mảnh rơi phía dưới nhiều hơn. Chúng dừng một đợt lại dậy chạy. Chiều hôm qua phía trên này mưa. Chạy trong đêm trên các đồng ruộng gồ ghề, trơn trợt thật khó khăn. Các đồng chí kia ngã lăn ra ruộng ướt sũng.”(Tr.158).
Tới Hội An. “Thị xã đang bốc hơi, dòng sông cũng đang bốc hơi. Hẳn Hội An đang bịt bùng ghê gớm và cũng đang chộn rộn ghê gớm. Bắt lính. Đầy đường chật ních bọn ác ôn, bọn Quốc Dân đảng, bọn cảnh sát dã chiến, cảnh sát công lộ, bọn bình định áo đen thùi lũi, và các loại lính, nghe nói trong đó cứ 4 người dân có 1 tên kìm kẹp”(Tr.139)
Về Hoà Hải.“Hoà Hải bây giờ khác nhiều. Vùng 2 vùng 3 bị cày, vùng 6 bị đánh phá dữ dội; Chiều nay qua đó mình nhìn thấy rất đông lính Mỹ cởi trần đỏ lòm. Vùng 7 trước đây chúng đóng đồn, giờ chúng bỏ, trên nỗng cát còn ngổn ngang dày đặc những bao cát xanh làm công sự. Bắt đầu từ ngày hôm nay chúng bắt dân vùng 5 đi phát rừng quanh điểm chúng đóng ở vùng 4 (Cồn Bông) ở đây có Mỹ nguỵ và một đoàn bình định 30 tên. Đường đi lại cỏ rậm rạp hơn, gai góc nhiều vô cùng. Buổi tối, dưới ánh pháo sáng và tiếng đại bác, du kích, cán bộ rộn rịp đi làm như đi xem văn nghệ. Đầu hôm pháo, cối bắn nhiều sang khu 6. Bắn đạn thẳng xuống chỗ mình ở. Một viên đạn vút qua tai cắm ngay vào vách hầm, thật may.”(Tr.256)
Chạy qua cầu Kỳ Lam thật hồi hộp. “Phải băng qua bãi cát, cầu bíu bằng những tấm gỗ đã cháy cheo leo, chênh vênh, chỗ thấp dưới mặt nước, chỗ lại lên cao chót vót. Rất dễ bị máy bay phát hiện và sơ ý là ngã xuống nước. Vẫn phải chạy. Vừa chạy qua máy bay trinh sát đến quần cả buổi, pháo dập theo sau. Lúc đến, máy bay thả bom một vùng gần đó đất rung chuyển.Tàu bắn, một đồng chí bị thương mất một cái chân.” ( Tr.241)
Đường đi lắm nỗi gian truân, ngay cả đồng bằng thôn quê. “Từ thôn này qua thôn khác phải lội sông. Các con sông ở đây nước lên xuống theo thuỷ triều, mỗi ngày một lần: từ tối cho đến trưa hôm sau nước lên, từ trưa đến chiều nước xuống. Nhiều lúc nước lên ngập đầu, nước xuống lội cũng ướt quần.” (Tr.98)
Đi trong những cơn mưa lớn miền Trung. “Những ngày đó trời mưa miết, anh em cứ khoét hang cóc trong giao thông hào ngồi ôm súng, áo quần ướt sũng, lạnh tím môi mà cũng không rời một bước.” (Tr.155)
Đi trong những cánh rừng, những khu vườn bị chất độc hoá học. “Cả vùng này địch vừa rải chất độc hoá học. Cây lá khô vàng rụng hết trọi, nắng chang chang và nóng nực quá đỗi. Mình chui lách giữa đám cây khô gần đó mà cảm thấy gáy mình nóng như có một ngọn đèn xì dí vào.” (Tr.165)
Nghỉ lại những ngôi làng bị địch cày xới thành đất trắng. “Cùng trong một thôn, nhưng vùng này xơ xác tất cả. Dương liễu cháy vàng, trông chói mắt. Ngay cái “cum cum”(lều không vách, hai mái úp nhau dựng trên cát) ở đây cũng rất ít. Chỉ có những sườn cum cum và vài tấm rạ thưa. Nhiều gia đình không có mái che nắng, tất cả sinh hoạt ngoài trời: bếp bắc ngoài trời, dưới nắng ngồi ăn cơm, ngồi chụm lửa, ngồi khâu vá đều phải đội nón. Ban đêm người ta mới ném lên cái sườn nhỏ bé đó hai, ba tấm tranh để che sương. Những cái cum cum khác cũng chỉ rộng hai, ba mét vuông, đủ để một mâm cơm, còn vợ chồng con cái đều phải phơi lưng dưới nắng, còn nếu trời mưa, thì ngay cái mâm cơm đó cũng không khỏi bị ướt. Nắng, cát chỉ có hai thứ đó ở đây là thừa thãi. Cái màu sắc có ấn tượng mạnh mẽ nhất là màu đen của than. Trên bãi cát gọi là xóm, là làng đó lỏng chỏng những cột dương cháy đen, những đòn tay chênh vênh cũng chỉ màu than.” ( Tr.226)
“Nhà ở đây lợp toàn bằng cạc- tông lấy trong các thùng, các két đựng đồ của Mỹ. Trụ sở của xã cũng là một ngôi nhà như vậy, nằm trong nhà có thể nhìn thấy trời. Trong nhà chỉ kê một miếng gỗ dán mỏng sát mặt đất.”(Tr.261)
Vẫn thường ngủ dưới công sự, luôn bị chuột tấn công, muỗi bao vây. “Ngủ lại một căn hầm nổi đã sụp, chuột nhiều kinh khủng. Không biết bao nhiêu lần chuột bò lên mặt, lên cổ và lên bụng.” (Tr.158) “Muỗi nhiều không tưởng được, đưa tay quơ là chụp được muỗi. Cảm giác khó chịu nhất là cả đàn cứ bay lùng bùng, vo ve trong tai.” (Tr.265)
Trong nhật ký của 1390 ngày ấy, có hai lần Chu Cẩm Phong kể được ngủ một đêm “thoải mái”: Một lần trên nền nhà bị phá.“Xung quanh đều có địch nhưng ở đây thật yên tĩnh. Tối mình vẫn ngủ trên nền gạch. Buổi sáng, ban ngày nghe tiếng xe bọc thép nổ máy chạy từ hai phía, nhưng dân và anh em vẫn đi làm.” (Tr.156). Một lần ngủ lại du kích làm rớ ngoài Cồn.“Đêm qua ngủ lại với mấy du kích làm rớ ngoài cồn. Trải một tấm rớ xuống đất, nằm ngoài trời, ngửa mặt nhìn lên bầu trời sao tháng năm dày đặc nhấp nháy. Gió Cửa Đại thổi lên lồng lộng; Đồn Gành đêm nay không bật điện sáng, thỉnh thoảng chúng lại bắn lên những viên đạn lửa sang bờ Xuyên Phước, phía ấy đang có một chiếc C47 quần…”(Tr.135)
Và đói. Không có chữ đói nào nhưng đọc thì biết quân ta ngày ấy, trong đó có các anh, đang sống trong những ngày đói khủng khiếp, “phải ăn thân cây dớn (một loại dương xỉ), cù nưa ( còn gọi là củ móng ngựa). Nếu có sắn thì thì cũng là thứ sắn bị ngấm chất độc hoá học đắng ngắt. Hoạ hoằn lằm mới có gạo.”(Bùi Minh Quốc).
“15 lon gạo mượn, 5 anh em ( Thêm Hà Xuân Phượng) ăn nhín, ăn nhịn được 3 ngày, hôm nay đã hết. Mấy hôm nay bữa nào cũng có thau rau tầm phục hoặc bắp chuối ăn độn”. ( Tr. 359) “Chạy đổi ít lon gạo ăn mấy ngày nay, hôm nay chỉ còn 19 lon gạo. Ban mình tối qua họp Chi uỷ bàn nhiều chuyện trong đó có chuyện sử dụng 19 lon gạo. Quyết định của mình thế này: Trích 5 lon bồi dưỡng cho Tam vừa đi viện về, còn 14 lon giao cho y tá giữ để dành có ai ốm thì ăn cháo.”. Bắt đầu từ nay cả cơ quan lại ăn sắn mỗi ngày ba bữa.” (Tr.475)
Gian khổ đói khát tất phải đau ốm, với thể trạng của Chu Cẩm Phong đau ốm bệnh tật dường như luôn đeo bám anh. Nhật kí chiến tranh chép liên miên những trận ốm. Trang trước vừa ốm, trang sau lại ốm. Không phải ốm vặt, những trận ốm nặng chưa từng thấy trong đời Chu Cẩm Phong mới chép vào nhật ký.
“Vượt đường, mình không có cảm giác gì đặc biệt ngoài cái mệt, cơn sốt cứ vò nát mình như người ta vò một tờ giấy. Đi trên bờ những miệng hào sâu, dày đặc lởm chởm chông và dây thép gai, mình cứ sợ chân run hay xây xẩm lăn xuống đó. Qua khỏi đường mình cứ lăn ra nằm dọc đường, trên bờ ruộng nghỉ. Đêm đó đi đến 1-2 giờ sáng” ( Tr.30)
“Ngày hôm qua và hôm kia bệnh tình mình thật bi đát. Toàn thân là một khối lửa bỏng. Mình thử nắm hai bàn tay lại, chỉ một thoáng thôi không chịu nổi phải xoè ra, vì nắm như vậy cảm giác như nắm hai cục than đỏ. Đầu nhức suốt 24 tiếng đồng hồ, gối phía nào cũng bị lem5, bị luốc6 như sắp vỡ ra. Nôn mửa liên miên, cả đêm lẫn ngày, có buổi hai lần. Mỗi lần đi ngoài, phải chống gậy mà vẫn cứ muốn ngã”.(Tr.31)
“Suốt bốn ngày mình đau buốt, nhất là từ một giờ chiều đến tận sáng hôm sau. Người luôn trong tình trạng hôn mê, lúc nào cũng thế, mình ráng ngồi dậy để chống lại những cơn mê quái quỷ đó mà không tài nào ngồi được lâu.” ( Tr.32)
“Mình bị ốm quỵ một cách đột ngột, ngã xuống nằm một chỗ. Thật là lạ, cả ba lần đi công tác tỉnh, lần nào đi về cũng bị ốm. Có lẽ do mình không ưa ở núi.” (Tr.156)
“Mình vừa qua một trận ốm chưa từng có, ghê gớm, tưởng suýt chết. Từ buổi trưa bụng bắt đầu đau, đau nhói, đau tức mỗi ngày mỗi khủng khiếp, đến tối thì cơn đau ở mức độ không thể nằm, không thể ngồi, nằm ngửa cũng đau, nằm sấp cũng đau, nằm nghiêng cũng đau… Tiêm Atropine vẫn không hết đau.” (Tr.192)
Nếu không có sự che chở, đùm bọc, cưu mang, giúp đỡ của nhân dân, khó có ai trong họ có thể vượt qua được những năm tháng khốc liệt ấy. Ấy là chuyện hiển nhiên, không phải nói nhiều. Chu Cẩm Phong cũng chép ít về những người dân đã cưu mang giúp đỡ anh, nếu chép hết thì ngàn trang cũng chẳng đủ. Anh chỉ ghi lại những gì đúng là chi tiết văn chương khó quên nhất, cho thấy tấm lòng của người dân, dù đó chỉ là cái mũ bỏ quên.
“Vừa vào nhà ông Cầu thì bộ đội đã rút ra. Bà Cầu nắm tay từng anh bộ đội. “Đi đánh giặc giỏi con hí!”,“Tội nghiệp tụi bay về trúng lúc chẳng có chi ăn.”… Bỗng thằng Tứ phát hiện ra chiếc nón (mũ) bộ đội bỏ sót, bà lập tức ra lệnh cho nó phải chạy theo cho kịp bộ đội hành quân để trao trả chiếc nón. Bà dặn với, rồi than thở:” Rứa đó, đi không coi cẩn thận, mũ nón bỏ để đi đầu trần, khổ chưa.”. Bây giờ anh Hiến mới nói: “Khách đó đi rồi, có khách mới.”- Anh chỉ mình và Tùng. Mình nói: “ Rứa đó, bến hiền thuyền đậu, phải không thím?”. Bà cười thân mật rồi nói lớn mà như khiêm tốn, nhưng cũng vừa như tự hào về gia đình mình: ”Bến này không hiền mô. Tuyến đầu mà, bom đạn dữ rứa mà hiền cái chi.” Bà quay lại bếp kéo anh Hiến đang cắm cúi nấu cơm: “ Thôi thôi xin ông, đừng vào bếp, mắc chi mà vào bếp” (Tr.74-75)
Rõ cách ghi chép của một nhà văn. Anh không kể công lao của người mình mang ơn bằng những lời ca ngợi hay những con số, mà chỉ ghi lại những chi tiết đủ để hiện lên những tấm lòng.
Tấm lòng mênh mông của người dân, từ gia đình hai em bé mồ côi. “Gặp một gia đình rất cảm động, mẹ chết, cha bị bắt từ trận càn tháng 2 năm ngoái bị giam ở Đà Nẵng, giờ chỉ còn hai chị em, chị tên The 15 tuổi, còn thằng Khôi 13 tuổi, cả hai là đội viên thiếu niên. Hai chị em sống côi cút, làm ruộng nuôi nhau và lo hương khói cha mẹ, ông bà. Chị hai em bé mà ăn ở rất nề nếp, chu đáo. Nấu cơm cho các chú, dọn ra đứng quạt đuổi ruồi, mời các chú ăn sạch sẽ gọn gàng.” (Tr.154)
Gia đình thím Ba, một gia đình rất nghèo, nhà 5 con nhỏ: “Chúng mình ở trong gia đình được gia đình thương yêu, chăm sóc như ruột thịt. Mình nhớ những lần thím đi bắt cua về, cứ dành phần cho mình, “thằng cháu đang đau”, ép mình ăn cho bằng hết. Thím hay nghiêm khắc la tụi nhỏ:- Tui bay có im đi cho anh bay nằm nghỉ không? Thấy hai đứa gần hết sạch tiền, sáng nay ngủ dậy thím lật đật đi đong lúa giã gạo, đong 10 lon cho hai đứa mang đi: “ Tụi bay đừng mua, số tiền đó để lên trên kia mua” (Tr.37-38)
Chị Trân hồn hậu thơm thảo: “Mình không ngờ mình chỉ ở đó một ngày rưỡi mà mình lại được chị mến, thương như vậy. Nghe tin mình ốm chị trách sao không lại nhà chị mà nằm dưỡng, chị đem xôi đường cho ăn, ép mình ở lại để chị nấu chè cho ăn. Biết mình đang đi tìm gạo, chị xúc gạo của chị để lại. Chị bảo: “Thấy chú nào giống em là tôi thương.” (Tr.158)
Và đây là câu chuyện về hai cô gái đã cứu Chu Cẩm Phong khỏi tay quân địch, để rồi chính họ phải nhận lấy một cái chết đau thương.
“Một ngày rất căng thẳng và là một ngày rất đau thương.
Đêm qua chôn tất cả đồ đạc không cần thiết để sáng mai đi xuống chưa tan sương Mỹ đã vào. Chạy Mỹ lúc chưa tan sương là một thất thế, rất nguy hiểm”… “Nhờ Cúc, Hường dẫn đường. Đi bao nhiêu ngõ đều bị Mỹ đón đường, quay lại. Cuối cùng đi đường C.K. Đường vắt qua một bãi cát trắng, leo lên một cái nỗng (Cồn cát, doi cát, gò cát)”.
“Cúc đi trước nhanh nhẹn. Người Cúc cao dong dỏng. Cúc năm nay 20 tuổi. Hường đi sau gần như nhảy, đuôi tóc ngắn ngúng nguẩy, em mặc một chiếc áo hồng. Thường ngày Hường vẫn gọi mình là chú Phong ( Hường 18 tuổi). Hường và Cúc đều có cha tập kết. Cúc ở Hoa Phụng. Hường ở Điện Ngọc. Hường mới thoát ly, như em tính hôm qua, thiếu ba ngày đầy hai tháng. Hường rất xinh đẹp, mũi thanh tú cặp mắt rất tình cảm, mày nhỏ, môi đỏ thắm. Em rất lanh lợi và đảm đang.”…
Cúc đi trên đỉnh đồi, rồi khuất, một ông già cầm dù đi ngược lại. (Trước đó đã có nhiều đồng bào đi xuống cho biết tin Mỹ đã kéo ra ngoài). Hường lên đỉnh cồn, đi chậm lại, đưa tay ngoắc mình đi nhanh.Gặp ông gìa, ông ta bảo với mình:“Cứ đi, không có chi hết.” Mình đi nhanh thì cả Cúc và Hường đều nói lớn: “Chào du! Chào du! Mình còn kịp thấy Hường giẫm chân ném chiếc nón cời xuống đất. Biết là gặp Mỹ… ngoảnh lại, thấy một thằng Mỹ đen cao to mặc chiếc áo biệt kích rừng tay cầm súng ga- răng M2. Hắn đi sau lưng mình chừng 15m và bước những bước dài… Thằng Mỹ vừa chạy vừa nói tiếng Việt “Đứng lại, đứng lại!... Giơ tay lên!” Mặc mày. Tao cứ chạy. Súng bắt đầu nổ, nổ từng phát một bay qua tai, rồi dưới chân. Mình không tránh cứ chạy … Có kỳ lạ không? Cách nhau 15 mét, thằng Mỹ chân dài thế mà chạy không kịp mình. Giữa trảng cát, cũng chỉ chừng ấy mét mà thằng Mỹ chạy đuổi theo mình gần đến mức tưởng hắn giang tay là chụp được vai, giống hai đứa con nít chơi trò cút kiếm với nhau.”(Tr.252-253)
“Lúc trở về mình bủn rủn khi nghe Nhân báo tin Cúc và Hường đã bị giết rồi! Mà không phải hai em, bốn em kia. ( Anh và Dũng ở trạm dưới). Nhân kể: Lúc đó Nhân nghe tiếng trẻ em khóc thét. Thiếu nhi trong làng chạy đến, chúng dồn cả lại một chỗ trên nỗng cát. Hương và Cúc bị lôi vào mé vườn hoang, nghe tiếng thét dữ dội. Cuối cùng nghe một tiếng nổ lớn. Chúng giữ rịt. Mãi một lúc sau mới chịu đi. Dân kéo lên lần theo dấu máu đến một cái hầm nổi bị sụp, đào lên. Trời ơi không phải hai xác mà bốn xác rất thảm thương. Cúc áo quần bị xé nát bỏ một bên nằm trần truồng, ngực bị xẻo,đâm, mặt bị chém, một nhát đâm từ trên đỉnh đầu xuống. Khắp thân mình bị xây xát mềm nhũn. Anh mặt bị bằm nát, rạch ngang dọc, mắt bị móc không còn nhận ra hình dạng, hai cánh tay bị giập nát, đầu vỡ sọ, Hương bị một nhát dao đâm giữa mặt. Dũng bị một phát đạn trước ngực. Thì ra bắt người, chúng hãm hiếp rồi giết bằng cách bằm nát rồi cho vào hầm giật mìn.” ( Tr.254)
Suốt cuốn nhật ký, Chu Cẩm Phong không hề bộc lộ những mất mát, đau đớn của riêng mình. Tới đây, đau thương đến nỗi anh phải kêu lên: “Cúc, Hường, Anh Dũng, các em thân yêu! Anh coi các em còn thân thiết hơn cả em ruột. Anh hiểu ý nghĩa sự hy sinh của các em, anh sẽ trả thù cho các em. Các em đã dạy anh phải xứng đáng với sự hy sinh của các em. Vĩnh biệt các em!” ( Tr.255). Ta hiểu sâu sắc hơn về con người và trái tim Chu Cẩm Phong.
Trái tim ấy khi đang ốm đau lại xót thương một đồng đội ốm đau: “Sáng nay lên đường, Xuân Quý (Nhà văn Dương Thị Xuân Quý) sốt nặng. Vừa đi vừa mửa, mắt thâm quầng, môi thâm xịt run run, da tái mét, người gầy như một con mắm” (Tr 201)
Trái tim ấy rưng rưng khi đứng trước quê mẹ. 13 tuổi ra đi 27 tuổi trở về. Biết mẹ vẫn ở đó nhưng mẹ đang hoạt động bí mật, mẹ con phải tránh gặp nhau, anh chỉ đứng xa nhìn về.
“Ôi, mảnh đất thật lạ lùng, bị bom đạn dữ dội như vậy mà ở bên này nhìn sang đất Cẩm Thanh vẫn có một màu xanh mát dịu, đắm thắm.
Ngồi đò ngoảnh nhìn những cây dừa cụt đầu, mình nhớ những ngày xa xưa, lúc mình còn bé xíu, cũng những buổi chiều như thế này, mình theo mẹ ngồi thuyền từ trên Phố về Cẩm Phô thăm bà ngoại. Hồi đó đất Cẩm Phô cũng mượt xanh và rất nhiều cau.. Ngôi trên thuyền nhìn những hàng cau lướt lướt, mình cứ ngạc nhiên mãi: Không biết tại sao những cây cau kia không có chân mà vẫn đi được. Về Cẩm Phô lại nghe khung cửi tay của bà ngoại, và có những đêm ăn cơm tối, ngoài trời tối mịt, cái đĩa đèn kê ở khung cửi, ngọn đèn lay động theo nhịp thổ của khổ go. Những ngày đó, hai chị em cùng với các con cậu Tám, ngồi dưới gốc mít nhặt lá mít chơi đủ trò.… Cẩm Phô ơi, cái gốc mít ấy có còn không, hàng cau thanh tú ấy có còn không: quân thù man rợ đã làm hoen ố bức gấm lộng lẫy đó của ta!” (Tr.109)
Nhật ký chiến tranh khoảng 26 vạn từ, chỉ có hai lần Chu Cẩm Phong thốt lên tiếng "ôi": một lần dành cho quê mẹ, một lần dành cho người yêu. Tiếng “ơi!” gọi quê ngoại, mẹ và người yêu cũng chỉ cất lên đúng một lần. Cho thấy sự kiệm lời và sức tự chủ cảm xúc hiếm có của anh.
“Gần tối mẹ cô Trợ đến thăm. Bà là mẹ nuôi của ba ngày xưa. Bà bảo nghe giọng mình nói bà lại nhớ đến ba. Bà đến mang theo ba lọ thuốc của mẹ gửi. Bà nói: “Cháu về, hèn chi mấy bữa ni thấy mẹ Bảy (mẹ Chu Cẩm Phong) người cứ vui và khoẻ…”. Nghe bà nói mình rất cảm động, nói đến mẹ, bỗng dưng mình khóc, nhưng mình giấu được, mình muốn gặp mẹ lắm, mình khao khát đến cháy lòng, nhưng mình sợ lộ thì khổ mẹ, ảnh hưởng đến công tác mẹ. Mình nghĩ đã mười mấy năm nay mình chịu đựng được, còn thời gian ngắn nữa thôi. Đành cắn răng chịu vâỵ. Mẹ ơi ngày giải phóng con sẽ về.”( Tr.117)
Đó là trang nhật kí Chu Cẩm Phong viết ngày 20.4.1968, ba năm sau trong trái tim anh bên người mẹ đã có thêm một tình yêu, một nữ bác sĩ. Họ cùng xa Hà Nội và gặp nhau ở chiến trường. Những trái tim yêu đương không hẹn mà gặp.
“Sau mỗi lần gặp, hình ảnh PL càng tràn ngập trong tim mình và mình cảm thấy đang xích lại gần em, đang đi đến một Tình yêu. Đến với PL, mình cảm thấy đó là cuộc gặp gỡ kì diệu, sự hoà hợp của hai tâm hồn mà mình vẫn ôm ấp mong ước. Đến với PL, mình sẽ chan chứa hạnh phúc suốt cả cuộc đời. Đêm nay ngồi trước trang giấy, hình ảnh PL thắm thiết tràn ngập trong những mơ ước về tương lai. Mình đã viết một lá thư ngắn đại khái thế này: “ Rất tiếc là chúng ta gặp nhau quá muộn…” (Tr.459)
“Thời gian đi nhanh lạ lùng. Mình chần chừ miết mới về được. Em đưa mình ra đến tận bờ suối đầu cửa rừng. Lòng buồn rười rượi… Mình không nắm tay Em và cũng không hôn được. Sau này mình thấy ân hận vì sự e dè ấy. Chia tay lần này đến bao giờ mới gặp nhau lại hở em?”… “ Đêm nay rét kinh khủng, mình nằm trăn trở nghĩ về tình yêu vừa đến, về Em. Đêm nay chắc em cũng lạnh và không ngủ được. Ngày mai em đã về. Con đường rừng Em mới đi một lần chắc sẽ lạc mất thôi. Ôi! Nghĩ đến hình bóng Em một mình thẫn thờ bước đi giữa những cánh rừng đại ngàn, leo trên những con đường chênh vênh, hun hút, mình thấy thắt lòng lại. Đến bao giờ gặp nhau? Đến bao giờ? Đến bao giờ?" (Tr.467)
Những dòng nhât ký thiết tha và day dứt ấy viết vào ngày 31.1.1971, 90 ngày sau, ngày 1.5.1971 tại thôn Vinh Cường, xã Xuyên Phú (nay là Duy Tân) huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam, Chu Cẩm Phong hy sinh. Nhà văn Hồ Duy Lệ, bạn học thủa thiếu thời của Chu Cẩm Phong đã ghi lại những giây phút cuối cùng của anh qua lời kể của anh Lê Yến, một người cùng hầm bí mật ở khoảnh khắc bị địch khui hầm.
“Anh Phong dặn: Chiến đấu đến cùng. Ai thoát được thì tốt, không được đầu hàng.”. Địch thì đã vây quanh la ré hù doạ (…) Chúng vừa bắn tiểu liên vừa ném lựu đạn tới tấp vào bụi tre. Địch ném liên tục, có khi năm bảy quả một lần, nhiều quả lọt xuống nổ tung toé (…) Cả Ca và Ta đều bị thương rất nặng. Ca rên to. Anh Phong động viên Ca đừng rên, ráng chịu. Bảo anh em băng cho Ca và Ta, còn anh thì tự băng lấy (…) Anh lục gùi tài liệu xé, moi đất lấp lại.”
“Đó là động tác cuối cùng của Chu Cẩm Phong. Thực ra anh đã bị thương nặng lắm ở thắt lưng mà anh em cứ tưởng anh chỉ bị nhẹ ở chân. Mấy giây sau động tác cuối cùng ấy, anh tắt thở” ( Bùi Minh Quốc)
Giây phút ấy bà Bảy mẹ anh đang làm gì ở Cẩm Phô? Bác sĩ PL người yêu anh đang làm gì ở bệnh viện tiền phương? Không ai biết nhưng ai cũng tin hai người đàn bà đó là hình ảnh cuối cùng đọng lại trong trái tim Chu Cẩm Phong.
Bà Bảy nay đã về với đất trời. Còn bác sĩ PL7 vẫn tiếp tục con đường mình đã chọn. Sau ngày Chu Cẩm Phong hy sinh, bà nguyện “sống như anh”. Mười chín năm sau, năm 1990, bà trở thành Giáo sư, Tiến sĩ, Anh hùng Lao động, người nghiên cứu và sản xuất thành công vaccine viêm não Nhật Bản, đưa Việt Nam thành quốc gia thứ 4 châu Á làm chủ công nghệ vaccine VNNB, cứu sống hàng triệu trẻ em Việt Nam.
Chu Cẩm Phong và PL người yêu của anh, một người ngã xuống để giữ lấy sự sống cho Tổ quốc, một người sống tiếp để giữ lấy sự sống cho đồng bào. Hai số phận dấn hiến ấy gặp nhau ở một lời hẹn không bao giờ cần nói thành lời. Họ đã để lại cho đời một tác phẩm gìn giữ ký ức của dân tộc – Nhật ký chiến tranh – và một vaccine VNNB gìn giữ sự sống của con người; cả hai đều là những di sản vô giá, kết tinh từ một tình yêu và hai cuộc đời dấn hiến.
Củ Chi Ngày 3.8.2026
Nguyễn Quang Lập.
…………………………..
1. Theo sư Trần Ngọc Vương nguyên văn hai câu thơ này:
“Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí
Nhân bất phong sương vị lão tài”
2-3. Rút từ trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo
4. Rút từ bài thơ Những đêm hành quân của Xuân Diệu
5.Lem: cảm giác ê buốt, đau nhừ, đau âm ỉ kéo dài sau khi bị đè ép.
6. Luốc: mức độ mạnh hơn, cảm giác đau nhức, rã rời, tê dại, như bị nghiền nát hoặc bầm dập.
7. Vì hạnh phúc riêng tư của bs PL, chung tôi không ghi tên thật của cô

0 nhận xét:
Đăng nhận xét