Người lính hay nói trạng

 


Đời tôi có chi mà kể ông, sau khi thoát chết hàng trăm trận, vốn có chút ít kinh nghiệm tác chiến, được học qua học viện quân sự cao cấp, tôi về làm tư lệnh sư đoàn, thế thôi.

Viết báo, làm văn cứ nhằm vào mấy thằng có nhiều huân chương để khai thác, là dại. Nhảy xuống tụi lính kia kìa! Ở đấy các ông sẽ kiếm được khối chuyện. Khi ông đã được chúng nó cho gia nhập hội, nghĩa là khi ông được chúng nó coi như một thằng lính thực thụ thì ông cứ phải há hốc mồm mà nghe chúng nó nói. Sao ông cười?... Thôi được, tôi xin hiến cho ông một chuyện, từ thời tôi còn là một thằng lính, nhưng không phải chuyện của tôi… Chuyện một thằng bạn của tôi.

Cậu ta tên là Phạm, Nguyễn Phạm. Nó có nước da đen, đen một cách khủng khiếp. Chúng tôi thường trêu nó: “ Phạm từ lọ mực chui ra, lại còn nói láo con nhà võ lâm”. Đầu tiên nghe thế nó cáu lắm, sau nhàm tai, nó chỉ nhe răng cười. Phạm hay nói trạng. Nó nói trạng giỏi như thánh. Ôi sao ông lại cười? Thật đấy! Dạo đó, chúng tôi đang ở Nghệ An, chuẩn bị cho một chiến dịch lớn. Một hôm nó được lệnh đi đón một cán bộ cao cấp. Biết Phạm hay nói trạng, đại đội trưởng Thắng dặn đi dặn lại: “Mày đừng có ngứa mồm nói bà láp nhé! Ông ấy … khạc ra lửa đó, coi chừng!” Phạm gật đầu: “anh yên chí, tôi cũng khạc ra lửa!” Anh Thắng nghe hắn nói thế thì chán ngán, đe một lần nữa “Làm sao… tao không chịu trách nhiệm đâu đó! Đồ khỉ!” Nó cười khì. Thế là Phạm đi. Người cán bộ cao cấp ấy là phó tư lệnh. Dọc đường dẫn ông về nó câm như hến, một tay cầm gậy, một tay cầm tựa phát cây con, cứ thế Phạm lầm lũi đi không hé răng chi hết. Phó tư lệnh buồn bã theo hắn mệt quá, không khí xem ra nặng nề, kiếm chuyện nói cho vui:

- Cậu Phạm này…

- Dạ?

- Tớ hỏi thật nhé?

- Dạ thủ trưởng cứ hỏi thoải mái.

- Nói cậu đừng giận… chứ cậu đen quá! Đời tớ chưa thấy ai đen như cậu.

Chỉ cần có thể, coi như đã vào “gam” trạng của nó rồi! Phạm quay lại nhìn Phó tư lệnh với một bộ mặt bi thảm hết mức.

- Thủ trưởng tưởng tôi đen thật đấy à? Tôi ngụy trang bộ da của tôi đấy thôi.

- Thế ra cậu trắng?

- Dạ… Phạm gãi đầu - không những trắng mà còn óng ánh lân tin nữa. Thật khổ, cha mẹ tôi sinh ra tôi không lường trước sau này có chiến tranh…

- Óng ánh lân tinh? Phó tư lệnh ngờ vực hỏi. Hắn tỉnh bơ, vừa đi vừa nói:

- Dạ. Cho nên … trước khi nhập ngũ, mẹ tôi bắt tôi phải nhuộm da. Mẹ tôi mượn thùng phi về, mua một cân thuốc nhuộm thả vào, đổ nước đun thật sôi. Xong, tôi nhảy vào đó… đậy nắp lại. Có phèn chua nữa, màu bền phải biết! Chỉ tiếc mẹ tôi không mua được màu xanh lá cây, phải nhuộm màu đen.

Phó tư lệnh nghe đến đó phải đứng lại dựa vào gốc cây mà cười:

- Cái thằng nói láo vừa vừa chứ! Nước sôi.. hì hì… nhảy vào… đồ nói … hì hì láo!

 Phạm nói trạng với bất kỳ đối tượng nào, bất kỳ thời điểm nào, chỉ cần có thời cơ là hắn nói. Sau này tôi mới biết Phạm sinh ra ở cái nơi “nhà nhà nói trạng, người người nói trạng”, đấy là thôn Huỳnh Công, xã Vĩnh Tú, Vĩnh Linh. Những chuyện trạng của Phạm không phải trăm phần trăm nó bịa ra, một phần là gia tài của bà con cô bác ở cái làng ấy. Phạm là thằng trinh sát có nghề, khỏe thua voi một chút, chỉ có đều là vụng chân vụng tay vô kể. Những việc vặt đại loại như đục đẽo, đan lát, gò hàn… không ai dám giao cho nó làm. Vì thế nó đâm ra sướng. Mỗi lần trinh sát về hoặc là nó ngủ, hoặc là nó đút tay túi quần tha thẩn hết lán này sang lán nọ để có dịp là nói trạng. Suy cho cùng đời cũng phải có những thằng như thế mới thực là đời, nếu không thì chán chết!

***

Trong sư đoàn bộ của chúng tôi hồi đó có hơn chục cô gái làm thông tin vô tuyến 15 oát. Cô nào cũng khá gái cả. Hết thảy đều mê Phạm. Xung quanh các cô có hàng trăm thằng vui tính, nhiều tài vặt. Phạm không vui tính theo nghĩa thông thường. Nghĩa là không bao giờ nó nói bông lơn. Phạm không phải là khách thường xuyên của lán “mì chính cánh” kia. Trông bề ngoài nó như một thằng lầm lì ít nói. Phạm chỉ nói khi người ta hỏi nó. Hầu như tất cả mọi sự trả lời của nó đều là mở đầu của một huyền thoại. Không ai có thể bắt chước được, Phạm cứ mở mồm là đá cũng phải cười. Các cô gái thích hắn lắm. Mỗi lần gặp Phạm, các cô hồi hộp chờ nó nói để được cười ré lên, túm áo nhau mà cười, đấm lưng nhau mà cười… Không cô nào biết Phạm mấy tuổi, ở đâu, hoàn cảnh gia đình ra sao. Phạm đứng ngoài cuộc tất cả những lần anh em đàm luận về tình yêu, về những đặc điểm, những yêu cầu “đối tượng” cần “nghiên cứu”. “Cái thằng Phạm thế mà khô khan”, anh em thường nói thế. Tôi cũng nghĩ thế mặc dù không nói ra. Ấy thế mà nhầm, nhầm to hết! Đó là cái đêm tôi thấy Phạm ngủ sau cùng mặc dù xưa nay nó vẫn được mệnh danh là kẻ có một lịch sử ngủ sớm. Tôi để ý xem nó làm gì. Thấy Phạm lục trong ba lô ra một cuốn sổ ngồi hí hoáy viết. Nó viết lâu lắm, có đến ba tiếng đồng hồ mới xong. “Chắc cu cậu nổi máu văn chương!” Tôi nghĩ vậy rồi nằm đợi cho Phạm cất tiếng ngáy pho pho mới lẻn dậy. Lính trinh sát lấy một mảnh giấy trên túi áo ngực của một người đã ngủ say có gì là khó. Tôi lật ra xem: “Kiều Vân, em yêu quí nhất của đời anh!” và tôi cười, ôm bụng mà cười. Cười, không phải vì đó là chuyện hài hước mà vì bất ngờ quá, thú vị quá. Có điều không dám cười to. Cắn lưỡi, bịt mũi mà cười. Cứ khục khục. Hơn mười phút tôi mới đọc tiếp được bức thư tình của Phạm gửi cho Kiều Vân, một hoa hậu của sư đoàn tôi. Té ra bức thư rất ngắn, chỉ thế này thôi: “Kiều Vân đừng nghĩ rằng thằng nói trạng là thằng nói láo. Trong rừng lạnh quá, tôi nói trạng cho anh em cười, cười thiệt to, vậy thôi. Đời có nhiều chuyện để khóc nhưng rất ít chuyện để cười. Kẻ nào tìm được nhiều chuyện đáng cười để cho mọi người phấn chấn vui vẻ mà quên hết nhọc nhằn, kẻ đó thực có ích cho đời có phải không Kiều Vân? Hôm qua Minh Thủy túm áo tôi nói: “em vừa đi lấy gạo về, em mệt quá!” anh nói trạng đi. Hôm trước Phương Thanh chạy đến tìm tôi nói: “em nhớ nhà quá, anh nói trạng đi!” Chỉ riêng Kiều Vân là hiểu sai vai trò gây cười của tôi. Tại sao Kiều Vân lại gọi tôi là: “ Phạm nói láo”? Tôi buồn. Nhưng tôi không ghét Kiều Vân đâu. Tôi yêu Kiều Vân, yêu ghê lắm. Yêu đến muốn chết đi được. Nếu không phải là người lính đang đánh nhau với Mỹ - ngụy có lẽ tôi chết mất vì sự lạnh nhạt của Kiều Vân. Kiều Vân ạ:

Tôi yêu em đến nay chừng có thể
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai
Nhưng không muốn em bận lòng thêm nữa
Hay hồn em phải gợn bóng u hoài
Tôi yêu em âm thầm không hy vọng
Lúc giận hờn lúc hậm hực lòng ghen
Tôi yêu em chân thành đằm thắm
Cầu em được người tình như tôi đã yêu em
            Nhà thơ Liên Xô: Gooc-ki

Tôi lại phì cười. Trời ơi có ngần ấy chữ mà hí hoáy hơn ba tiếng đồng hồ. Trời ơi “nhà thơ Liên

Xô: Gooc-ki”! Phạm ơi là Phạm, tao muốn chết vì buồn cười quá! Tôi đang khoái chí bỗng bị ngã dúi vì một lực đẩy rất mạnh.

- Tổ cha mi! Mi đọc … đồ khỉ!

Tôi quay lại, vội vàng chìa tay trả bức thư cho Phạm. Ngỡ Phạm sẽ chửi um lên, chẳng ngờ sau khi nhận được thư, cậu ta lẳng lặng ngồi xuống cạnh tôi.

- Ông viết thư hay quá!

- Tao yêu con Vân… răng mi cười?

- Ai người ta cười chuyện ấy! Cười là cười thơ Pus-kin thì ông nói thơ Goor-ki. May con Vân nó chưa đọc… Kiều Vân là sinh viên năm thứ nhất đại học sư phạm văn Hà Nội đó.

Tao biết. Đại học… Kệ! Tao yêu nó chứ yêu chi cái “đại học” của nó. Có điều mi phải bí mật… Nếu không tao chém chết.

- Yên chí, tôi sẽ giúp ông. Tôi làm “bè trầm” tốt lắm.

Chúng tôi ngồi với nhau cho đến sáng thì thầm vạch một kế hoạch “tác chiến”, bước một sẽ … bước hai sẽ … Nhưng toàn bộ kế hoạch tạm thời bị trì hoãn vì chúng tôi được lệnh đi trinh sát cứ điểm 174 ở Tây bắc Quảng Trị. Cũng may cuộc đi lần đó không ai mệnh hệ gì. Về đến đơn vị, báo cáo với chỉ huy sư đoàn xong, chúng tôi đi luôn đến lán nữ. Tụi con gái vừa thấy cái mũi đen chũi của Phạm chạm ngõ nhà mình, đã hét toáng lên:

- A! Ơ! Anh Phạm! Anh Phạm! Tụi bay ơi!...

- Chào anh nói trạng vĩ đại!

- Anh Phạm ơi… chúng em “dớ” anh lắm! Anh phải kể thiệt “diều” chuyện hí, anh Phạm.

Tụi con gái bao vây lấy Phạm. Phạm ngồi xuống giường của Kiều Vân (theo kế hoạch đã duyệt ở bước một). Kiều Vân thấy Phạm ngồi cạnh mình thích lắm, cầm tay Phạm lay lay:

- Bắt đầu đi anh Phạm!

Phạm không nói gì, với tay lên giá đỡ lấy cái lược của Kiều Vân chải đại tóc mình. Tôi ngồi nghĩ thầm: Kiều Vân nó niềm nở với Phạm thế sao trong thư cậu ta bảo cô ta lạnh nhạt? Có lẽ cậu ta quá bi quan thôi! Quá bi quan, có lẽ… Thấy Phạm cứ cầm lược chải tóc miết, Kiều Vân sốt ruột giục:

- Gớm! Chải gì mà chải khiếp rứa! Tóc con trai có một nhúm mà cứ làm đỏm mãi à…

- Bậy. Có sao người ta mới chải!

- Hay là chấy? Kiều Vân nheo mắt hỏi, tụi con gái cười rúc rích.

- Đâu có! Hỏi ông này mà xem. Hôm qua đi trinh sát 174 về, dọc đường bị trực thăng đuổi bắn chạy gần chết. Đang chạy mình nghe choang choang trên mũ sắt, lật mũ ra thấy năm sáu lỗ thủng đạn 12 ly 7. Sờ tay lên đầu, úi chà đầu đạn cắm đầy, tóc rối quá về mượn lược chải thôi.

Phạm chìa tay ra, đúng là năm cái đầu đạn nằm lỏng chỏng trên tay nó thật. Phạm cất lược lên giá đỡ. Tụi con gái đấm Phạm, xô Phạm, lay Phạm, cười chảy nước mắt.

- Khỉ này! Gớm! Cứ làm như thánh lắm!

- Đồ ma bắt!.. “dưng” mà tức cười quá!

Sau hôm đó, bẵng đi một tuần không thấy Phạm nhắc gì về Kiều Vân nữa. Tôi sốt ruột chờ Phạm kể về tiến trình phát triển tình cảm của hai người. Phạm vẫn lặng lẽ như xưa. Đến hôm chuẩn bị đi trinh sát lần cuối cùng toàn bộ những cứ điểm đã trinh sát để chuẩn bị cho chiến dịch lớn của sư đoàn sắp mở màn, tôi mới có dịp hỏi lại chuyện ấy. Sau bữa cơm chiều, tôi thấy Phạm đi ra sau nhà ngồi tựa vào một cây táo nhìn xa xôi vào khoảng tối của cánh rừng săng lẻ. Tôi chạy đến, không nói gì, ngồi xuống cạnh. Phạm cúi đầu hí hoáy viết xuống đất “Kiều Vân - Cần viêu, Kiều Vân - Cần viêu…”, có đến hàng chục chữ như thế.

- Đã đưa thư cho… ấy chưa? Tôi hỏi.

- Đưa rồi.

- Nó nói sao?

- Nó nói tao nói trạng.

- Sao nữa?

- Hết.

- Tầm bậy… ông phải quẳng cho nó thêm vài lá thư nữa.

- Thôi.

- Chấm hết?

- Không, tạm thời chấm lửng..

Sau đó tôi biết thực ra chuyện không đơn giản như thế. Phạm đã phục suốt năm buổi tối để chọn đúng một buổi tối chỉ có mỗi mình Kiều Vân ở nhà. Phạm bước vào, hít một hơi thật sâu rồi bắt đầu nói. Cậu ta nói bạt mạng, lung tung, “đầu ngô mình sở”, rằng yêu Kiều Vân như thế này, đau khổ vì Kiều Vân như thế nọ… rằng đã nhiều đêm không ngủ, nhiều ngày không ăn… rằng vì Kiều Vân mà Phạm “ruột đau như cắt nước mắt đầm đìa”… toàn những lời tán tỉnh của giới mày râu thời trung cổ. Kiều Vân há mồm nghe, thích thú như một cô bé đang thưởng thức một tấn hề tuồng, và khi Phạm nhắm mắt dúi vào tay Kiều Vân lá thư tình thì cô ta phá lên cười:

- Anh Phạm ơi anh Phạm! Hay quá! Lần sau… lại như thế này nữa nhé! Em thích lắm! Anh nói trạng giỏi hơn trạng Quỳnh đó.

Phạm lẳng lặng rút lui. Còn Kiều Vân xem đó như một tác phẩm mới của Phạm … cô ta thì thào với tụi con gái để rồi nằm ôm lưng nhau rúc rích cười suốt đêm hôm đó.

Chúng tôi lại lên đường. Đời thằng trinh sát là vậy. Cuộc sống của hắn, nỗi đau khổ, niềm vui sướng của hắn chính là nơi ranh giới giữa cái sống và cái chết. Tiểu đội trinh sát chúng tôi có chín người. Bao giờ cũng vậy, lượt đi tôi dẫn đầu, Phạm đi cuối, lượt về thì ngược lại. Hai đứa tôi là “gạo trên sàng” của tiểu đội trinh sát này…

Đợt này chúng tôi đi dài ngày. Phải khảo sát kỹ tất cả các dữ kiện cho một chiến dịch lớn, chúng tôi gọi đó là khảo sát tổng hợp. Chui qua một rừng le, đến rừng dẻ tía thì Phạm mất tích. Chúng tôi buộc dừng lại. Trinh sát lạc rừng, lạc đường là chuyện cơm bữa.

Phạm bò về khi chúng tôi đã mất hết hy vọng tìm kiếm. Áo quần nó rách bươm, đấy là bằng chứng của việc băng rừng, cắt lối.

- Lạc hả?- tôi hỏi.

- Ừ lạc… tổ cha hắn chỉ sẩy chân một cái mà mò mãi không tìm được lối ra - Phạm nằm ngửa, dạng cả chân tay lên đám lá mục - Lạc… nhưng mà hay ghê gớm.

Tôi biết sắp được nghe một chuyện trạng của Phạm nên ngồi im, vểnh tai lên.

- Tao đang loay hoay tìm đường thì nghe tiếng con gái léo nhéo. Ngỡ là cánh thanh niên xung phong, chẳng dè.. tiên! Tiên tắm tụi bay ạ. Mười sáu nàng tiên cả thảy. Họ đang tắm, áo quần, cánh đuôi, cánh tay dăng đầy bờ suối. Tao trố mắt nhìn. Chà, ngắm đã thôi…

- Có giống … phụ nữ hạ giới không? Về mặt… cấu trúc ấy?

- Đại loại cũng gần giống. Khỉ quá! Tao động mạnh mấy cô tiên giật mình vơ vội áo quần bay mất. Vừa bay vừa mặc áo quần… có một cô đánh rơi chiếc khăn mùi xoa, tao nhặt được đây này.

Phạm xòe ra chiếc khăn mùi xoa trắng tinh. Có trời mà biết được nó kiếm ở đâu ra. Chỉ biết chắc chắn không phải của nó. Làm sao nó lại có cái khăn trắng, sạch như thế được.

***

Tôi không phải là anh làm văn nghệ nên tuyệt nhiên không biết giấu tình tiết câu chuyện. Tôi nói toạc ra cho ông hay đó là chuyện trạng cuối cùng của đời Phạm. Sau đó thì Phạm hy sinh. Rất nhiều cái chết của người lính thực ra không rắc rối, phiền phức như trong văn chương các ông viết đâu. Nhiều khi nó giản dị lắm. Thằng lính nào đi đánh giặc cũng tâm niệm, cầu mong mình đừng chết hoặc có chết thì phải chết trong một tư thế thật đàng hoàng, chững chạc… Nhưng cái chết thường đến bất ngờ quá, chóng vánh quá!... Phạm chết ngay trên đường quay trở về đơn vị, cách doanh trại chỉ 6 km thôi. Nghĩa là, khi chúng tôi tưởng có thể thở phào nhẹ nhõm sau bao nhiêu nguy hiểm đã vượt qua… Tiểu đội trinh sát chúng tôi dẫm phải một bãi mìn bọn thám báo vừa gài. Mìn nổ, tôi đi sau cùng nên chỉ bị sức ép…

Tôi có cái hạnh phúc cay đắng này: được nhìn thấy đôi mắt Phạm ánh lên lần cuối cùng, được nghe Phạm nói những lời cuối cùng, được chứng kiến cái rùng mình cuối cùng của Phạm … Đấy là khi tôi tỉnh dậy, bò đến chỗ Phạm. Nó nằm sấp, hai tay bấu vào một cái rễ cây. Phạm mở mắt trân trân nhìn tôi, mồm mấp máy. Tôi ghé tai sát xuống, ghé sát xuống nữa.

- Trong túi áo.. khăn mùi xoa… trả … Kiều Vân… tao ăn cắp của nó… xin lỗi … bảo nó… chuyện của tao nói … lá thư tình… Tao nói trạng - Phạm ngừng lại một chút rồi nói to hẳn - nói trạng … xin… đừng… bận… tâm…

Tôi lặng lẽ vuốt mắt cho Phạm rồi vừa đi, vừa bò đến đơn vị thì kiệt sức, ngất xỉu…

Vâng! Cái điều mà ông hỏi thì tôi cũng đang muốn kể. Kiều Vân đến thăm tôi trong trạm xá sư đoàn. Trông mặt cô ta bơ phờ, mệt mỏi. Tôi không nói gì hết. Kiều Vân cũng vậy. Cả hai cứ nhìn nhau. Cuối cùng tôi rút khăn mùi xoa đưa cho Kiều Vân.

- Phạm gởi trả lại Kiều Vân đấy, nó xin lỗi.

Tôi định nói thêm với Kiều Vân rằng Phạm nhắn với cô ta tất cả những hành động, những lời thổ lộ, bức thư tình kia chỉ là nó thích bịa ra cho vui như là một chuyện trạng vậy. Nhưng nghĩ lại, tôi không nói. Kiều Vân đón lấy khăn mùi xoa, và khi thấy một vệt máu chạy dài từ góc khăn này đến góc khăn kia thì cô kêu lên thảng thốt:

- Chết!... Chết thật rồi!

Và cô đứng bật dậy, ấp chiếc khăn mùi xoa trước ngực, đi giật lùi vài bước rồi xoay mình bỏ chạy.

Tối hôm sau Kiều Vân lại đến. Cô lặng lẽ ngồi xuống bên tôi, đầu cúi xuống, nước mắt cứ rơi từng giọt. Một lúc Kiều Vân hỏi mà không nhìn tôi.

- Anh ấy có nói gì… nói gì cũng được… về em không?

Tôi định lắc đầu, nhưng không hiểu sao, tôi lại nói:

- Phạm nó nói… nếu Kiều Vân có thương nó thì cứ nghĩ là nó đang đi đánh giặc và nói trạng ở một miền đất khác.

Đột nhiên Kiều Vân ngẩng mặt lên:

- Ờ nhỉ! Rứa mà em không nghĩ ra… suốt đêm qua em không nghĩ ra… Anh ấy làm sao mà chết được anh nhỉ? Đạn 12 ly 7 bắn vào đầu không thủng kia mà…

Kiều Vân chợt phá lên cười, như là cô đang vừa nghe xong một chuyện trạng của Phạm vậy. Rồi đột ngột im bặt. Một tiếng nấc từ trong lồng ngực còn rất non trẻ của cô bỗng bật lên, sâu thẳm.

Huế, 3-1984.
N.Q.L.
(9/10-84)




NGUYỄN QUANG LẬP CUỘC ĐỜI TỪ OANH - LIỆT đến AN.

QUỐC THƯỜNG



LTS - Thật may mắn khi về Củ Chi thăm má Mười và Mái ấm Thiện Duyên, tôi được anh Thư nguyên Cục phó Cục Tần số bộ 4T là bạn học ĐHBK Hà Nội cùng nhà văn Nguyễn Quang Lập, đến nhà Bọ Lập chơi, qua tâm sự mới vỡ lẽ thêm nhiều điều.
Năm ngoái nhà văn Phạm Phú Thép quê Ba Đồn cùng nhà hoạt động xã hội nổi tiếng Nguyễn Cảnh Bình có về nhà tôi chơi. Hai anh tặng sách trong đó có cuốn Ba Đồn mạn thuật của Bọ Lập gửi ra. Nhận sách của Nguyễn Quang Lập tôi lại nhớ ánh mắt hiền từ, lời nói nhỏ nhẹ, khoan thai của Bọ.
Hôm nay mới suy nghĩ và viết đôi dòng chúc nhà văn Nguyễn Quang Lập sống bình an bên người vợ đảm và đàn chim yến của mình.
Người đọc văn học Việt Nam đương đại khó có thể tìm thấy một trường hợp nào nhiều thăng trầm như nhà văn Nguyễn Quang Lập. Cuộc đời ông dường như đi qua ba trạng thái rõ rệt: Oanh -Liệt An.
“Oanh” là thời kỳ nổi danh. “Liệt” là những năm tháng thân thể suy kiệt và sự nghiệp gặp nhiều biến động. Còn “An” là giai đoạn trở về với đời sống bình dị, lặng lẽ giữa thiên nhiên, như một sự hòa giải với chính mình.
Nguyễn Quang Lập sinh năm 1956 tại Quảng Bình, từng học kỹ thuật vô tuyến điện nhưng lại chọn văn chương làm nghiệp chính. Những năm trong quân ngũ rồi sau đó làm báo, viết văn, viết kịch bản điện ảnh đã tạo cho ông vốn sống phong phú và một giọng văn rất riêng.
Từ cuối thập niên 1980, ông đã được biết đến qua tiểu thuyết, truyện ngắn, sân khấu và điện ảnh. Tuy nhiên, phải đến khi xuất hiện blog Quê Choa với bút danh “Bọ Lập”, tên tuổi Nguyễn Quang Lập mới thực sự trở thành một hiện tượng xã hội. Blog này thu hút lượng độc giả rất lớn nhờ lối viết khẩu ngữ tự nhiên, hóm hỉnh, sắc sảo và giàu tính phản biện.
Nhiều bài viết trên Quê Choa sau đó được tuyển chọn thành tập Ký ức vụn, một trong những cuốn tản văn được bạn đọc yêu thích nhất những năm đầu thế kỷ XXI.
Đó là thời kỳ “oanh” của Bọ Lập. Oanh không chỉ vì nổi tiếng mà còn vì sức viết dồi dào. Nguyễn Quang Lập xuất hiện đồng thời ở nhiều lĩnh vực: văn học, sân khấu, điện ảnh, báo chí và mạng xã hội.
Giọng văn của ông mang đậm chất dân gian Quảng Bình, tưng tửng mà sâu cay, hài hước mà nhiều suy tư. Không ít người xem ông là người đã đưa “khẩu văn” trở thành một phong cách văn xuôi đặc sắc.
Nhưng đời người thường không chỉ có hào quang. Bước sang tuổi trung niên, Nguyễn Quang Lập phải đối mặt với nhiều thử thách.
Trước hết là bệnh tật. Căn bệnh khiến chân tay yếu dần, việc đi lại trở nên khó khăn. Có thời gian ông gần như phải gắn bó với xe lăn, sinh hoạt hết sức bất tiện.
Chao ôi! Từ một người từng xông xáo, hoạt bát, ông phải học cách sống chung với sự hạn chế của thân thể.
Đó là cái “liệt” theo nghĩa đen. Song còn một cái “liệt” khác, nặng nề hơn. Những phát ngôn, bài viết và hoạt động xã hội của ông từng gây nhiều tranh luận. Năm 2014, ông bị bắt giữ liên quan đến hoạt động trên blog cá nhân, trở thành một trong những trường hợp gây chú ý lớn trong đời sống văn học và truyền thông Việt Nam thời kỳ đó.
Từ vị trí một nhà văn được đông đảo công chúng yêu mến, Nguyễn Quang Lập bước vào giai đoạn nhiều sóng gió. Người khen có, người chê có. Người xem ông là tiếng nói phản biện xã hội, người khác lại cho rằng ông đã đi quá xa khỏi địa hạt văn chương. Danh tiếng vì thế không còn thuần túy là hào quang mà trở thành một gánh nặng.
Nếu nhìn dưới góc độ Phật học, đây là giai đoạn con người nếm trải đầy đủ tính chất vô thường. Danh vọng không bền. Sức khỏe không bền. Những lời tung hô hôm nay có thể trở thành những lời chỉ trích ngày mai. Cái “ngã” từng được nuôi dưỡng bởi sự nổi tiếng buộc phải đối diện với thực tế nghiệt ngã của đời sống.
Điều đáng chú ý là sau những biến động ấy, Nguyễn Quang Lập dần thu mình khỏi các tranh luận gay gắt. Ông ít xuất hiện hơn trên các diễn đàn xã hội. Việc viết lách cũng trở nên điềm tĩnh hơn.
Như tôi biết hiện nay ông chọn cuộc sống tương đối lặng lẽ ở khu vực Củ Chi, chăm sóc gia đình, cây cối và nghề nuôi chim yến.
Từ một người từng là tâm điểm của vô số cuộc tranh luận trên mạng xã hội, ông trở về với nhịp sống bình thường của một người cao tuổi.
Đó chính là chữ “An” ông có được ở tuổi chiều tà.
Cái an này không phải là sự thất bại hay buông xuôi. Trái lại, đó có thể là kết quả của một hành trình dài sau khi đã đi qua đủ vinh nhục.
Ngày trẻ, người ta thường muốn nổi tiếng. Khi nổi tiếng rồi lại muốn được hiểu. Khi trải qua sóng gió mới hiểu rằng điều quý giá nhất không phải là nổi tiếng hay được hiểu, mà là được sống tỉnh tâm, bình yên.
Nhìn lại cuộc đời Nguyễn Quang Lập, có thể thấy một đường cong khá đặc biệt. Từ người lính thành nhà văn. Từ nhà văn thành hiện tượng mạng xã hội. Từ hiện tượng xã hội trở thành nhân vật gây tranh luận. Rồi cuối cùng trở về với đời sống dân dã giữa cây trái và tiếng ríu rít của đàn chim yến về tổ.
Anh vừa nhắn tin cho tôi "cuối đời anh chỉ có chữ ĐỊNH em ạ, giờ tập trung vào Chữ Định trong "Giới - Định - Tuệ" mà thôi. Đây là trạng thái tâm trí tập trung cao độ, an tịnh và hoàn toàn tỉnh thức, không bị xao động hay chi phối bởi hoàn cảnh bên ngoài
Oanh rồi Liệt. Liệt rồi An, đó không chỉ là câu chuyện riêng của Nguyễn Quang Lập mà còn là một minh họa sinh động cho quy luật vô thường của đời người. Hào quang rồi cũng nhạt. Tranh cãi rồi cũng qua. Chỉ còn lại con người đối diện với chính mình.
Có lẽ ở tuổi bảy mươi, điều đáng quý nhất đối với một người cầm bút không phải là những tràng pháo tay của đám đông, mà là khả năng ngồi yên dưới bóng cây, nghe tiếng chim gọi bạn giữa chiều Củ Chi, và mỉm cười với tất cả những gì mình đã đi qua./.
*Thiện An - Trần Quốc Thường, Hội Di sản văn hóa Việt Nam, hội VHNT Hà Tĩnh.

Một dấu phẩy không chịu đứng yên

NGUYỄN QUỐC CHÍNH



Rất nhiều người viết cả đời để làm dấu chấm: kết luận, tổng kết, đóng khung. Có những người viết để làm dấu chấm than: gây chú ý, gây sốc, gây tiếng vang. Bọ không chọn hai con đường ấy. Bọ chọn làm dấu phẩy - một dấu phẩy đặt không đúng chỗ, giữa đời và văn.
Nguyễn Quang Lập viết từ một vị trí rất khó. Văn chương của Bọ không sinh ra từ bàn viết kín đáo, mà từ đời sống còn nóng: những chuyện nghe lỏm, những mùi khó chịu, những điều ai cũng thấy nhưng ngại gọi tên. Bọ không đứng hẳn trong văn chương để làm mỹ học, cũng không đứng hẳn ngoài đời để làm phóng viên sự kiện.
Bọ lơ lửng.
Và chính cái lơ lửng ấy khiến chữ của Bọ khó chịu với nhiều người - khó chịu vì nó không cho ai yên tâm.
Văn của Bọ không “hay” theo nghĩa trang trọng. Nếu đo bằng trau chuốt, sang trọng, cân đối, thì văn ấy không đạt chuẩn. Nhưng nếu đo bằng độ trúng, độ gọn, và khả năng làm người đọc ngượng, thì Bọ rất hiếm. Bọ không cố làm câu chữ đẹp; Bọ làm cho thói quen xấu hiện hình. Khi thói quen xấu đã hiện hình, nó xấu sẵn rồi, không cần trang điểm thêm.
Châm biếm của Bọ không nhằm hạ người khác. Nó không dùng để chứng tỏ mình thông minh, càng không để leo lên vị trí đạo đức cao hơn ai. Bọ châm biếm bằng tự trào, chấp nhận mình cũng nằm trong cái ao ấy.
Khi Bọ viết: “Tôi như dấu phẩy đặt sai chỗ / Giữa đời và văn”, đó không phải là than thân, mà là tuyên ngôn vị trí.
Một người không nhận mình là trung tâm, chỉ nhận mình là kẻ làm câu văn bị khựng lại.
Văn chương của Bọ là văn chương làm ngắt nhịp. Xã hội rất sợ những thứ làm ngắt nhịp: câu hỏi không đúng lúc, sự im lặng không theo kịch bản, một dấu phẩy chen vào nơi đáng lẽ phải liền mạch. Chữ của Bọ làm đúng việc đó. Nó không lật bàn, không đập vỡ; chỉ khiến dòng chảy phải dừng một nhịp rất ngắn. Nhưng đôi khi, chỉ cần một nhịp dừng, người ta mới kịp nhận ra mình đang trôi đi đâu.
Vì sao văn của Bọ không bao giờ “thuộc hệ thống”? Vì hệ thống cần câu tròn, nghĩa rõ, vai trò xác định. Trong khi dấu phẩy của Bọ không kết luận, không tuyên thệ, không xin đứng đúng hàng. Bọ không viết để được trao thưởng, cũng không viết để chống đối bằng khẩu hiệu. Bọ viết để làm lộ ra những mảng mà hệ thống không muốn soi kỹ. Thế nên Bọ luôn… lệch. Nhưng lệch không phải lúc nào cũng sai; nhiều khi, lệch chỉ là chưa chịu cúi đầu cho thẳng hàng.

Gã Khờ nói thật một câu: văn chương của Bọ không cứu rỗi ai, cũng không dẫn đường. Nó chỉ làm một việc khiêm tốn hơn nhiều - nhắc người ta rằng câu văn xã hội này chưa xong đâu. Và đôi khi, một dấu phẩy đặt sai chỗ lại là thứ giữ cho câu ấy chưa khép lại trong dối trá.

ĐÒ ƠI!

Tuỳ bút phê bình của Nguyễn Thanh Sơn.



Không có tội lỗi nào mất đi, nó chỉ đổi hình, chảy ngược về phía thời gian, để mỗi lần con người cất tiếng, ký ức lại khẽ dội về, như một lớp sóng ngầm không chịu yên. Nguyễn Quang Lập viết Đò ơi trong chính khoảnh khắc ấy-khi chiến tranh đã trôi mà hòa bình chưa kịp tới, khi lời nói không còn đủ hơi sức để ca ngợi mà tâm hồn cũng chưa đủ độ lùi để sám hối. Ông viết như một người đang học lại cách thở sau chiến tranh-chậm, nặng, sâu-như thể chỉ còn biết lắng nghe tiếng của chính mình trong những gì còn sót lại.

Trong văn xuôi hậu chiến Việt Nam, mỗi người viết đều tìm một cách nói khác cho cùng một im lặng. Nguyễn Minh Châu mở con đường tự vấn của lý trí, Dương Hướng trả lại ký ức cho cộng đồng, Nguyễn Khắc Trường giải phẫu sự mục ruỗng của làng xã, còn Nguyễn Quang Lập thu hết di chứng chiến tranh vào trong thân thể của một con người mang tội lỗi. Ở ông, chiến tranh không phải là ký ức chung, mà là vết thương riêng, và Đò ơi là bản độc thoại của một linh hồn chưa qua sông, nơi mọi tiếng nói đều là tiếng vọng.

Truyện ấy, nhìn bề ngoài, giản dị đến khắc khổ: một người từng là anh hùng, nay sống lặng bên sông, mang theo tội lỗi không ai biết. Nhưng trong cấu trúc, nó được tổ chức như một bản tấu nhiều bè, xoay quanh bốn tầng tiếng gọi- những tầng âm mà lương tâm phát ra trong bóng tối của mình.

Tiếng gọi đầu tiên là tiếng gọi của ký ức ngoài con người. “Một vài con bìm bịp đã cất tiếng gọi bạn, đó là âm thanh duy nhất trường tồn trên bến sông này.” Nguyễn Quang Lập không mở truyện bằng hành động, mà bằng tiếng vọng. Tiếng bìm bịp, tiếng nước, ánh hoàng hôn, tất cả không phải để tả cảnh mà để tái hiện ký ức đang gọi về qua lớp thiên nhiên. Ở đây, chính tự nhiên cũng trở thành ký ức, một ký ức vượt khỏi cá nhân, một kiểu ký ức ngoại thân -nơi trời đất nhớ giùm con người điều họ không dám nhớ. Mỗi tiếng bìm bịp, mỗi gợn sóng, là một cú chạm của quá khứ vào hiện tại, một nhịp ngân cho bản trường ca tội lỗi mà nhân vật đã tự viết lên thân mình.

Tiếng gọi thứ hai là tiếng gọi của thân thể, nơi khát khao bật ra thành âm. Người lái đò say rượu, cất tiếng hát “Ai (ờ) đưa con sáo qua sông…”, “Hò ơi… ví dầu cha mẹ em có đánh chín chục, một trăm roi…”. Những câu hò cũ trôi lên giữa đêm, tưởng chỉ là dân ca, nhưng thực ra là tiếng của xác thịt muốn được sống lại. Chiến tranh đã tập cho con người nín thở, giữ mình trong kỷ luật, không được yêu, không được run, không được yếu. Nhưng ngay cả khi cơ thể không biết cách thở nữa, nó vẫn bật tiếng kêu của bản năng-vừa là khát sống, vừa là khát cơ thể. Trong cơn bão ấy, một phút lầm lỗi xảy ra. Nguyễn Quang Lập không kể lại, ông chỉ để âm thanh làm chứng; vì trong mọi tội lỗi, bao giờ cũng có phần tiếng nói bị chặn lâu ngày của thân thể.

Tiếng gọi thứ ba là lời lương tâm vỡ ra từ xấu hổ. “Ngu.” “Đồ chó.” Hai tiếng ngắn ngủi mà nặng như nhát búa của người đàn bà vang lên qua nhiều năm, dội lại trong lều rách, trong giấc ngủ, trong hơi thở. Không ai còn kết án ông nữa, xã hội đã quên, thời gian đã tha, chỉ có chính ông vẫn tiếp tục nghe. Nguyễn Quang Lập ở đây không viết đạo đức luận; ông viết âm thanh của sám hối. Bởi mọi đạo đức đích thực không nằm ở lời hứa, mà ở việc con người còn biết đỏ mặt trước ký ức của mình. Tiếng chửi ấy chính là nhịp tim của sự lương thiện.

Và cuối cùng, tiếng gọi thứ tư-ảo thanh của chuộc lỗi, tiếng gọi “Đò ơi… đò!” giữa đêm mù sương. Không ai gọi, nhưng ông nghe thấy. Người lái đò vùng dậy, chèo đi trong sương, lao vào bóng tối như người nghe được lệnh của ký ức. Con thuyền ấy không chở ai, chỉ chở một linh hồn đi tìm lại phiên tòa của mình. Tiếng gọi “đò ơi” là âm vang cuối cùng của ý thức, tiếng ngân mà bên kia không ai đáp lại. Nguyễn Quang Lập dừng truyện ở đó-nơi cánh cửa vẫn đóng, nơi không có sự cứu rỗi. Ông hiểu rằng mọi kết thúc đều là một hình thức tha thứ, và tha thứ, đôi khi, lại là cách giết chết chân lý. Vì thế, ông giữ im lặng, để im lặng làm công việc của phán xét.

Từ những tầng âm ấy, Đò ơi mở ra một cấu trúc của thời gian biết tự ngân. Quá khứ không nằm sau lưng, mà vẫn còn đang nhắc liên tục-nói bằng tiếng của nước, của bìm bịp, của thân thể, của những khao khát bị bỏ quên trong chiến tranh. Mỗi âm thanh đều là một cách ký ức tự tìm đường về, và vì thế, quá khứ trong truyện không trôi qua mà lặp lại, như con sông không chịu chảy, chỉ giữ lại bóng người soi mình trong nước. Trong khi đó, hiện tại được đánh dấu bằng một tiếng duy nhất – “Đò ơi…”-tiếng gọi mỗi đêm vẫn vang, nhỏ thôi nhưng bền, như một linh hồn chưa yên. Ở khoảnh khắc ấy, hiện tại không còn là một thời gian đang diễn ra, mà là một thời gian tự nghe lại mình. Còn tương lai-phần đời chưa tới-là một cõi câm lặng: sau bao nhiêu tiếng gọi, thế giới chỉ còn im, như thể mọi khả năng cứu rỗi đều đã được tiêu hết vào tiếng vọng cuối cùng.

Trong dòng chảy ấy, Đò ơi hiện ra như một tấm gương kép, nơi hai bi kịch-bi kịch của thời đại và bi kịch của con người-chồng lên nhau và soi lẫn vào nhau. Bi kịch thời đại là chiến tranh, một cơn cuồng tín tập thể đã biến anh hùng thành tàn dư, biến ký ức chung thành gánh nặng riêng. Nó không chỉ tàn phá thân thể, mà còn tổn thương tâm hồn, khiến mỗi kẻ sống sót đều mang trong mình một phần tro nguội của quá khứ. Bi kịch con người có khi chỉ là khát khao bị kìm nén quá lâu, một phút trượt khỏi bản năng rồi phải sống mãi trong mặc cảm. Nhưng người lái đò mắc kẹt giữa hai dòng nước ấy của quá khứ và tương lai, không biết bờ nào là thật; chiến tranh đã dạy ông cách chết, nhưng không dạy ông cách sống lại. Nguyễn Quang Lập, với sự điềm tĩnh của người đã đi qua mọi tiếng ồn của thời cuộc, chỉ đặt ông vào khung cảnh đó -không kết án, không bênh vực-để ông tự nghe, tự chịu, và dần hóa thạch trong im lặng dằn vặt của chính mình.

Và cuối cùng, khi truyện khép lại, tiếng gọi “đò ơi” vẫn còn đó, nhỏ thôi, nhưng dai dẳng, như tiếng thở của một linh hồn chưa được siêu thoát. Không biết đó là tiếng của người đàn ông, của người đàn bà, của con sông, hay của chính người đọc-chỉ biết rằng nó vẫn tiếp tục ngân, qua mọi bờ, qua cả văn bản, như một lời nhắc âm thầm rằng: điều còn sống lâu nhất trên đời này không phải là ký ức, mà là tiếng gọi của ký ức-thứ không ai dập tắt được, cũng không phải ai cũng đủ can đảm để trả lời.

Nổi chìm ấn truyền quốc Nhà nguyễn

Chiều 30.8.1945 tại Ngọ Môn, dưới mái lầu Ngũ Phụng- Huế, vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho phái đoàn đại diện chính phủ lâm thời của Việt Minh do ông Trần Huy Liệu làm trưởng đoàn. Hồi ký Trần Huy Liệu, vua Bảo Đại và Đổng lý Ngự tiền Văn phòng của vua là ông Phạm Khắc Hoè đều không nói rõ ấn gì, kiếm nào. Nhưng không mấy người quan tâm tới ấn kiếm. Người ta chỉ thích thú được biết vua Bảo Đại hai tay nâng ấn kiếm trao cho cán bộ Việt Minh mới ở rừng về. Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, Phạm Khắc Hoè viết: “Bảo Đại hai tay đưa lên trao cho ông Trưởng đoàn Đại biểu chính phủ quốc ấn bằng vàng nặng gần mười ki lô gam và chiếc quốc kiếm để trong vỏ bằng vàng nạm ngọc.” Tước ấn kiếm của Hoàng đế Bảo Đại, Trần Huy Liệu viết: “Bảo Đại giơ hai tay dâng chiếc kiếm dài nạm ngọc và sau đó là chiếc ấn hình vuông.” Con rồng Việt Nam, vua Bảo Đại không viết trao hai tay hay trao một tay, ngài viết chỏn lọn mỗi câu: “Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín quốc bảo của hoàng triều cho ông Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại.”

Nhà nghiên cứu văn hoá Huế Nguyễn Phước Hải Trung, con trai nhà thơ Hải Bằng, cho là vấn đề không phải vua Bảo Đại trao hai tay hay một tay. Điển lễ xưa nay nhà vua không trực tiếp trao cho ai bất cứ cái gì. Theo ông việc trao ấn kiếm phải thế này mới đúng lễ, ông viết: “Một viên đại thần bê khay (đặt ấn+kiếm trên khay) đến và quỳ xuống, vua Bảo Đại đặt tay lên ấn kiếm, tượng trưng cho đế quyền như một tuyên bố thoái vị từ thời khắc đó. Đại diện Chính phủ Lâm thời bước đến và nhận lấy ấn kiếm, nhận lấy quyền lực vừa được chuyển giao.”

Bảy năm sau, ngày 28.2.1952 một toán lính Pháp tìm thấy ấn kiếm nói trên ở chân móng ngôi nhà bị tàn phá của ông Hà Văn Đô tại làng Nghĩa Đô, Hà Nội. Có lẽ người của Chính phủ Việt Minh trú ở nhà này, tháng 12.1946 trước khi rút khỏi Hà Nội đã dấu vội ấn kiếm ở đây. Ngày 8.3.1952 Pháp tổ chức trao ấn kiếm cho cựu hoàng Bảo Đại tại đại lộ Puginier (phố Điện Biên Phủ ngày nay). Lễ om sòm nhưng Bảo Đại không có mặt, ngài đang ở cùng vợ con ở lâu đài Villa les Pins bờ biển Côte d’Azur thành phố Cannes.

Từ đây, qua báo chí Pháp người ta mới biết chiếc ấn có tên Hoàng Đế Chi Bảo đúc từ Minh Mạng năm thứ tư, 4.2.1823. Quốc kiếm khắc dòng “Khải Định niên chế” (Chế vào thời Khải Định) và “Trọng kim tứ lạng thập thất phân” (kiếm nặng 4 lượng 17 phân).

Kim bảo "Hoàng Đế Chi Bảo" là quả ấn được đúc bằng vàng ròng nguyên chất vào năm Minh Mệnh thứ 4 (1823). Đài chồng 2 núm rồng ngồi xổm, vuông 3 tấc 2 phân, dày 5 phân. Mặt ấn khắc 4 chữ triện 皇帝之寶 (Hoàng Đế Chi Bảo). Mặt trên của ấn, ở hai bên khắc chìm hai dòng chữ 明命肆年貳月初肆日吉時 鑄造 (Minh Mệnh tứ niên nhị nguyệt sơ tứ nhật cát thời chú tạo- đúc vào giờ tốt ngày mồng 4 tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 4) và dòng chữ 拾成黃金重貳百捌拾兩玖錢貳分 (Thập thành hoàng kim trọng nhị bách thập lạng cửu tiền nhị phân- làm bằng vàng mười, nặng 280 lạng 9 chỉ 2 phân (tương đương khoảng 10,7 kg).
Ảnh và chú thích rút từ trang web của Trung tâm lưu trữ quốc gia 1.

Cả Thực lụcHội điển(1) đều chép sự kiện đúc ấn Hoàng Đế Chi Bảo, chỉ rõ việc dùng ấn, cho thấy ấn này có tầm quốc ấn. Nhưng sách Từ Điển Nhà Nguyễn(2) lại cho Hoàng Đế Chi Bảo là ấn ngự dụng, không phải ấn truyền quốc. Sách này đặt câu hỏi: “Tại sao vua Bảo Đại không trao ấn Đại Nam Thọ Thiên Vĩnh Mạng Truyền Quốc Tỉ, ấn tượng trưng vương quyền chánh thống cho chính quyền mới, mà lại trao Hoàng Đế Chi Bảo, là ấn dùng để làm việc thường ngày?”

Lại phải lần dò lịch sử 300 năm, từ thời Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu, mới rõ ngọn ngành.

Tháng 10 năm 1558 Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613) vào trấn thủ Thuận Hóa mang theo ấn Tổng trấn tướng quân(3) vua Lê ban. Trải hơn 133 năm với 5 đời chúa vẫn ấn trấn thủ ấy không đổi. Tới đời Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), năm 1708 Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên, Đàng Trong liền một dải từ Sông Gianh tới Năm Căn thái bình thịnh trị, chúa Minh mới nghĩ tới việc xác định chủ quyền, đúc quốc ấn.

Thực lục chép: “Kỷ Sửu, năm thứ 18 [1709], Mùa đông, tháng 12, ngày Nhâm Dần, đúc quốc bảo. Sai Lại bộ đồng tri là Qua Tuệ Thư coi việc chế tạo (ấn khắc chữ Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo. Năm ấy đúc xong, về sau liệt thánh truyền nhau lấy làm quốc bảo.” Có lẽ danh xưng Chúa Quốc (Quốc Chúa) của Chúa Nguyễn Phúc Chu bắt đầu từ đây. Để khỏi dài dòng, tạm gọi ấn này là Ấn Chúa Quốc.

Ấn Chúa Quốc: Đại Việt Quốc Nguyễn chúa Vĩnh trấn chi bảo.
Mặt ấn.

Bản dập mặt ấn .
Ấn Chúa quốc có mặt hình vuông, núm là tượng lân vờn ngọc, đầu ngẩng lên cao quay về bên trái. Chân trước bên phải chống, chân trước bên trái dẫm lên viên ngọc, hai chân sau chùng xuống. Dọc lưng kỳ lân chạm vân mây lửa. Hai bên lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán. Bên trái khắc “Kê bát thập kim, lục hốt, tứ lạng, tứ tiền, tam phân”. ( Cộng vàng 8 tuổi, nặng 6 thoi, 4 lạng, 4 tiền, 3 phân). Bên phải khắc 11 chữ “Vĩnh Thịnh ngũ niên, thập nhị nguyệt sơ lục nhật tạo” (Dịch nghĩa: chế tạo vào ngày 6 tháng 12 năm Vĩnh Thịnh 5 - tức năm 1709 dưới triều Vua Lê Dụ Tông). Mặt ấn đúc nổi 4 chữ triện, nét chữ vuông uốn nhiều góc, xung quanh là đường viền, đọc theo chiều từ trên xuống dưới, và từ phải qua trái là: Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa Vĩnh trấn chi bảo (“Bảo của chúa Nguyễn nước Đại Việt trấn giữ lâu dài”). Cạnh dưới khắc dòng 9 chữ Hán “Lại bộ Đồng Tri Qua tuệ Thư giám tạo” (“Quan trông nom việc chế tạo là Đồng Tri bộ Lại Qua Tuệ Thư”).

Ảnh và chú thích ảnh rút từ trang web của Bảo Tàng quốc gia.

Năm 1715, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho dựng tại chùa Thiên Mụ tấm bia cao 2m60 rộng 1m25. Chúa đích thân viết bài minh văn “Ngự kiến Thiên Mụ Tự” 1250 chữ, cho khắc vào bia. Hình dấu Ấn Chúa Quốc được khắc đè lên dòng chữ đầu và cuối bia khéo đến nỗi như dấu ấn đóng lên bia đá, chỉ dấu thiêng của ấn truyền quốc.

Bia “Ngự kiến Thiên Mụ Tự” của chúa Nguyễn Phúc Chu- Ảnh Võ Thạnh (VnExpress 13.2.2021)

Mà thiêng thật. Thực Lục cho hay: “Kỷ Sửu, năm thứ 18 [1709], Mùa đông, tháng 12, ngày Nhâm dần đúc Quốc bảo.” Sang năm “Canh Dần, năm thứ 19 [1710], mùa xuân, tháng 3, được mùa to.”

Ấn truyền đến Định vương Nguyễn Phúc Thuần rồi Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh cả thảy năm lần tưởng ấn mất nhưng rồi ấn lại về.

Một lần mùa đông năm 1776, Tây Sơn đuổi Nguyễn Phúc Thuần chạy đến Ba Giòng (thuộc Định Tường). Thực lục chép: “Chúa giao cho Cai đội Lê Chữ giữ một cuốn kim sách 4 tờ (sắc phong chạm trên sách bằng vàng), chiếc ấn vàng truyền quốc và 3 quả ấn đồng quan trọng khác. Đến sông Tra Giang (Trà Giang?) gặp giặc, Chử sợ chạy, quăng cả sách và ấn xuống sông. Đến đây lại về chỗ cũ mò được, đem dâng.”

Một lần, năm 1777 Chúa Nguyễn Phúc Thuần bị Tây Sơn bắt, giết ở Long Xuyên. Quân cơ tan nát rã đám, tưởng ấn cũng mất theo. Không ngờ ấn lại về Nhà Nguyễn. Thực lục chép: “Mậu tuất năm thứ 1 [1778] mùa xuân, tháng giêng, vua (tức Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh) đóng ở Sài Gòn, Đỗ Thanh Nhân cùng các tướng tôn vua lên làm Đại nguyên soái quyền coi việc nước (17 tuổi)…. Thủ ngự đạo Quang Hóa là cai đội Lê Chử đem kim sách và quốc bảo của tiên triều đến dâng. Vua (Nguyễn Vương), khen và thưởng.”

Một lần vào năm 1782, quân Tây Sơn đánh Gia Định, Nguyễn Vương đại bại, phải chạy ra đảo Phú Quốc. Thực lục chép: “Mùa hạ năm Nhâm dần, giặc đánh Sài gòn, [Thế tổ] ra đảo Phú Quốc, điều khiển Ngô Công Quý mang ấn theo sau bị lạc. Đến khi Chu Văn Tiếp phá được giặc, rước vua hồi loan, Công Quý cũng từ Long Hồ đem ấn về hiến.”

Một lần, đâu như năm 1783, Thực lục chép: “Lại đến chiến dịch Ba Lai, quân giặc đuổi gấp, tòng thần (Người đi theo vua) mang ấn lội sông chạy, ấn rơi xuống nước, rồi thì người lội sau vướng chân chạm phải, lại mò lấy được, đem hiến ở hành tại.”

Lần thứ năm vào năm 1784, bại trận và bị Tây Sơn rượt đuổi, Nguyễn Vương phải đem gia quyến chạy ra trốn ở đảo Thổ Châu. Thực lục chép: “Mẹ vua và cung quyến (cung phi và con vua) đều đến lại ở đảo, vua Xiêm sai tướng là Thát Xỉ Đa đem binh thuyền đến đón vua mới vào nước họ. Trong lúc thảng thốt, tình trạng người Xiêm chưa lường được thế nào, vua mật sai tòng thần tên là Hựu đem ấn ấy vượt biển lên bờ giấu kín. Khi vua đến thành Vọng Các ( Bangkok ngày nay), thấy vua Xiêm đãi rất cung kính, không có ý gì khác, vua mới sai người về đảo Thổ Châu để đón từ giá và cung quyến, tên Hữu cũng mang ấn ấy đi theo”.

Quá tam ba bận, với Ấn Chúa Quốc là năm bận “Châu về hợp phố”, chuyện quá lạ lùng.

Tín niệm người xưa cái ấn thiêng lắm. Ấn còn thì quyền còn, mất ấn thì mất quan, mất quyền, thậm chí mất cả tính mạng. Với ấn truyền quốc mất ấn là mất nước. Thời Tam quốc nước Tàu có chuyện Tôn Kiên bắt được ấn truyền quốc mang về Lạc Dương trừ Đổng Trác là một ví dụ. Ấn Chúa Quốc năm lần trở về với nhà Nguyễn, tất là ấn thiêng.

Vậy nên vua Gia Long quyết định chọn Ấn Chúa Quốc làm ấn truyền quốc của Nhà Nguyễn. Vua ra dụ cho người kế nghiệp là Thái tử Đảm (vua Minh Mạng sau này) dặn dò những điều hệ trọng.Thực lục chép: “Ấn báu này, các đời truyền nhau, ngày xưa đã trải qua nhiều phen binh lửa, người chẳng chắc còn, mà ấn này vẫn giữ trọn trước sau, chiếu văn và bổ dụng quan lại đều dùng ấn này, giữ tín trong nước, ai cũng hưởng ứng. Ấn này quan hệ tới quốc gia không nhỏ, thực là ngôi báu trời cho mà vẫn có quỉ thần giúp đỡ, khiến cho ngọc bích của Triệu4 lại trở về để truyền cho con cháu…Từ nay về sau nên lấy ấn này làm vật báu truyền ngôi. Con cháu ta phải đời đời để lại cho nhau, đừng làm mất đi mà truyền đến ức muôn năm dài lâu mãi mãi.”

Từ khi lên ngôi báu đến khi về trời, vua Minh Mạng một mực vâng mệnh vua cha giữ gìn Ấn Chúa Quốc như giữ ngôi báu của mình. Thực lục chép: “Năm Canh Thìn, Minh Mệnh năm thứ 1, tháng 2, ngày tốt, Thánh tổ Nhân hoàng đế (vua Minh Mạng) tự tay phong kín cất đi. Đến năm Đinh Dậu thứ 18 ngày 22 tháng chạp lại mở xem một lần rồi viết chữ son niêm lại để cất như cũ, dùng để truyền cho ức muôn đời. “

Nước Đại Nam dưới triều Minh Mạng thái bình thịnh trị, sang triều Thiệu Trị vẫn thái bình. Kịp tới tháng 6 năm 1846 có người dâng vua ngọc quí, vua Thiệu Trị nảy ra ý làm ấn truyền quốc thay thế ấn truyền quốc của Chúa Quốc. Tới tháng 5.1847 ngọc tỷ truyền quốc làm xong. Thực lục chép: “Đinh Mùi, Thiệu Trị năm thứ 7 [1847], mùa hạ, tháng 5.Tiết Vạn thọ. Quả ấn bằng ngọc khắc xong. Năm Thiệu Trị thứ 6 [1846], gặp tiết Vạn thọ đại khánh, có người trình dâng một viên ngọc quý rất to, sai thợ ngọc giũa khắc thành quả ấn. Năm nay, ngày lễ tế Giao, vua đem việc ấy mật cáo, lấy ngay ngày ấy bắt đầu làm, khắc mấy chữ “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” (Quả ấn truyền quốc của nước Đại Nam chịu mệnh trời ban cho lâu dài).” Cũng để tránh dài dòng, tạm gọi là Ấn Thiệu Trị.

Thực lục dành hầu hết hai quyển 68 LXVIII và 69 LXIX, bản dịch với 3000 từ kể lể dài dòng ngọc quí ra sao, việc đúc ấn ngọc khắc chữ thế nào, lễ trình ấn rất long trọng trước Thế miếu và dụ của vua về sự cần thiết làm Ấn Thiệu Trị.


Ấn ngọc: Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ.

Ấn được làm bằng đá ngọc màu trắng đục hay còn gọi là bạch ngọc, gồm hai phần: núm và mặt ấn. Núm ấn chạm khắc hình rồng, theo thế rồng cuộn với đầu ngẩng cao, chân năm móng, đuôi xoắn. Mặt ấn hình vuông khắc nổi chín chữ "Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ" (Ấn ngọc truyền quốc của nước Đại Nam nhận mệnh lâu dài từ trời). Phía trước đầu rồng có khắc dòng chữ nhỏ "Nam Giao đại lễ để cáo" (tế cáo đại lễ đàn Nam Giao). Hông ấn có hai dòng chữ nhỏ: bên trái là "Đắc thượng cát lễ thành phụng chỉ cung tuyên" (Hoàn thành xong các nghi thức đại lễ phụng chỉ cung kính khắc ấn), bên phải là "Thiệu Trị thất niên tam nguyệt thập ngũ nhật" (Ngày 15 tháng 3 năm Thiệu Trị thứ 7, 1847).
Ảnh và chú thích rút từ trng web của Bảo tàng quốc gia

Chuyện “Có người dâng ngọc quí” là cái cớ. Dân vẫn khai thác đá bạch ngọc ở núi Ngũ Hành Sơn huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam không quá xa, cũng không quá khó. Dụ nhà vua có đoạn: “Tự cổ đế vương dấy lên, tất có phù ấn để tỏ ra chức mệnh. Vì thế các đời cùng truyền có kim bảo, có ngọc tỉ. Kim bảo để làm việc, ra cáo mệnh cho bốn phương, ngọc tỉ thì tôn kính cất đi, để truyền cho muôn đời.” Vua muốn ngụ ý ấn truyền quốc phải là ngọc tỉ, Ấn Chúa Quốc chỉ là ấn kim bảo. Cả cớ lẫn ý đều muốn giấu ý thật này: Vua Thiệu Trị không thích hai chữ Đại Việt và dòng khắc “Vĩnh Thịnh ngũ niên” (Năm Vĩnh Thịnh 5) trên Ấn Chúa Quốc khiến ấn Nhà Nguyễn như ấn Nhà Lê. Vua không thích luôn cái núm lân vờn ngọc mà 138 năm trước Chúa Quốc đã chịu nhún tỏ ý phận tôi. Giờ đây nhà Lê đã mất, hà cớ gì không thay ấn có chữ Đại Nam và núm thế rồng cuộn! Vua Thiệu Trị đã rất đúng khi muốn thay Ấn Chúa Quốc bằng Ấn Thiệu Trị, trong triều ngoài cõi ai cũng đồng tình. Nhưng vua và triều thần đã quên mất Ấn Chúa Quốc là ấn thiêng. Thần dân kẻ quên người không tin ấn thiêng, chẳng ai can dán nhà vua chớ bỏ Ấn Chúa Quốc. Bỏ không phải là vứt bỏ, cả Ấn Chúa QuốcẤn Thiệu Trị vẫn còn nguyên cho đến năm 1945 (Hiện vẫn còn nguyên ở Bảo tàng quốc gia), chỉ huỷ bỏ tính truyền quốc của Ấn Chúa Quốc, thay vào cho Ấn Thiệu Trị. Kể từ tháng 7 năm 1847, Nhà Nguyễn có một ấn truyền quốc là Ấn Thiệu Trị. Ngọc tỉ này được đóng lên các chiếu chỉ gửi cho các nước phiên thuộc và thần dân. Nó được công nhận là “Ngọc tỉ truyền quốc của Đại Nam”.

Tháng 7 thay ấn truyền quốc, tháng 8 vua Thiệu Trị đổ bệnh, tháng 9 băng hà. Vua Tự Đức nối ngôi, nối luôn cả triều đại thảm hoạ. Chiến tranh Pháp – Đại Nam bùng nổ. Từ 1.9.1858 Đà Nẵng thất thủ đến 5.7.1885 Kinh Đô thất thủ, quan quân Nhà Nguyễn đánh đâu thua đấy. Toàn bộ lãnh thổ Đại Nam bị Pháp chiếm đóng và thiết lập chế độ cai trị thực dân, khởi đầu thời kỳ Pháp thuộc kéo dài đến giữa thế kỷ 20. Rõ Ân Thiệu Trị là cái ấn có huông, đau thay!

Trở lại ấn Hoàng Đế Chi Bảo. Từ năm khắc ấn 1823 có ba lần vua Minh Mạng ra dụ về việc dùng ấn. Lần cuối năm 1836 là năm ấn Hoàng Đế Chi Tỉ khắc xong, Thực lục (và cả Hội điển) chép: “Trước đây, phàm gặp việc cho đại xá, hoặc đàm ân, cáo dụ các bậc thân huân, huấn dụ quan lại khi đi tuần thú xem xét địa phương, ban sắc thư cho ngoại quốc, đều đóng ấn Hoàng Đế Chi Bảo; đến đây mới đổi: phàm gặp khi đổi niên hiệu, ban đại xá, đại khánh đàm ân, thì đóng ấn ngọc tỉ, còn các việc từ cáo dụ thân huân trở xuống vẫn đóng ấn kim bảo”. Theo đó thì biết ấn Hoàng Đế Chi Bảo dù rất quan trọng vẫn là ấn ngự dụng, năm 1836 bị đẩy xuống hàng thứ yếu, sau ấn Hoàng Đế Chi Tỉ.

Vậy mà tháng 8 năm 1945 vua Bảo Đại đã bỏ qua ấn truyền quốc của nước Đại Nam là Ấn Thiệu Trị, chọn ấn Hoàng Đế Chi Bảo để “ bàn giao” cho đại diện Chính phủ lâm thời của Việt Minh, khiến tác giả Từ điển Nhà Nguyễn băn khoăn: “Không thể nói rằng vua Bảo Đại không biết, vì vua lên ngôi từ năm 1926.” Tôi nghĩ vua Bảo Đại 19 năm ở ngồi, sao mà không biết. Sở dĩ ngài bất kể ấn truyền quốc, quả quyết không chọn Ấn Thiệu Trị, vì đó là cái ấn có huông.

Nếu đúng vậy thì vua Bảo Đại cũng có lòng với nước Nam ta. May thay.
…………………….
1. Đại Nam Thực lụcKhâm định Đại Nam hội điển sự lệ Do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn.
2.Từ Điển Nhà Nguyễn, tác giả: Võ Hương An, sách dày đúng 1000 trang, khổ 18 x27. Nxb Tổng hợp Tp HCM năm 2020
3.Sử xưa không thấy sách nào chép ấn trấn thủ của Nguyễn Hoàng có tên này, để tiện gọi xin mượn tạm tên ấn trong bài Chiếc ấn vàng truyền quốc của triều Nguyễn của Hoàng Phương (VnExpress 28.1.2017)
4. Tích nước Tàu, Lạn Tương Như dùng mưu lấy ngọc nước Triệu từ nhà Tần đưa về cho nhà Triệu.

Nhà văn “làng ta” kể chuyện “làng ta”

MAI NAM THẮNG



Trong nghĩa trang Liệt sĩ của thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, ngôi mộ đầu tiên tính từ trên xuống là Liệt sĩ Nguyễn Tiến Nhẫn, sinh năm 1929, hi sinh ngày 16-8-1948. Anh là một chiến sĩ điệp báo mưu trí và gan dạ, tham gia Việt Minh từ thủa thiếu niên, bị địch bắt và hành quyết lúc mới 19 tuổi, được các thế hệ nhân dân quê nhà tôn vinh như một người anh hùng.

Nguyễn Tiến Nhẫn là con trai của ông Nguyễn Dư, tục gọi là ông Bộ Dư vì ông là người lo việc lễ lạt, tiệc dùng, đình đám của làng Phan Long, một ngôi làng cổ ở miền hạ bạn phía Bắc sông Gianh, được hình thành cách nay hơn 3 thế kỷ, sau cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn (1627-1775). Là trưởng nam của một gia đình “có chữ”, từ bé Nguyễn Tiến Nhẫn đã được học hành chu đáo, rất thạo tiếng Pháp. Đó là một lợi thế trong hoạt động cách mạng của Nguyễn Tiến Nhẫn, từ khi còn là một chú thiếu niên làm liên lạc cho tổ chức Việt Minh ở Ba Đồn thời kỳ tiền khởi nghĩa; cũng như sau này kháng chiến toàn quốc bùng nổ, làm điệp báo của ngành Công an tỉnh Quảng Bình. Đặc biệt, nhờ thông minh và tài trí, Nguyễn Tiến Nhẫn đã thực hiện thành công kế “Vệ quân nhập địch”, lọt vào hàng ngũ quân thù để khai thác những tin tức quan trọng, giúp quân ta chủ động đối phó với những trận càn lớn ở chiến khu Trung Thuần và làng kháng chiến Cảnh Dương. Khi bị địch bắt, dụ dỗ mua chuộc và tra tấn cực hình, Nguyễn Tiến Nhẫn vẫn không nao núng, kiên cường giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Địch đưa anh về hành quyết tại đình chợ Ba Đồn để khủng bố tinh thần nhân dân, nhưng tấm gương lẫm liệt của anh đã tiếp thêm sức mạnh cho phong trào kháng chiến cứu nước của quê hương…

Hơn 75 năm sau ngày chiến sĩ tình báo Nguyễn Tiến Nhẫn hi sinh, một người con của làng Phan Long là nhà văn Nguyễn Quang Lập đã tái hiện câu chuyện bi tráng trên đây qua tiểu thuyết Làng ta có một anh hùng, do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành quý 1-2025. Gần chục năm sau ngày anh Nhẫn hi sinh, Nguyễn Quang Lập mới ra đời. Trải qua những trận càn của thực dân Pháp, những năm tháng chiến tranh phá hoại của máy bay và tàu chiến Mỹ, những trận lũ lụt thường niên đôi bờ sông Gianh, những lần thay đổi đơn vị hành chính và cơ quan nghiệp vụ… nên những tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Tiến Nhẫn hầu như không còn. Đó là khó khăn lớn nhất đối với một nhà văn viết về đề tài lịch sử. Tuy nhiên, may mắn là từ nhiều năm trước đây, khi một số nhân chứng là bạn bè, đồng đội, chỉ huy của Nguyễn Tiến Nhẫn còn tại thế, Nguyễn Quang Lập đã gặp và tìm hiểu được nhiều tư liệu quý giá về nhân vật của mình. Đó là các ông: Cổ Kim Thành (hoạt động trong phong trào công nhân Ba Đồn trước năm 1945, sau là Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban hành chính Quảng Bình); Đồng Sỹ Nguyên (cán bộ Việt Minh ở Ba Đồn-Quảng Trạch, sau này là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam); Lại Văn Ly (cán bộ chiến khu Trung Thuần, sau này là Phó chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Bình)… và nhiều cán bộ tiền khởi nghĩa ở vùng Ba Đồn-Quảng Trạch trước đây, như các ông, bà: Phan Văn Trinh, Hồ Danh, Hoàng Cần, Nguyễn phi Phổ, Nguyễn Thị Lợi, Nguyễn Hữu Mường v.v… Cùng đó là ký ức của dân làng và những câu chuyện truyền khẩu về Liệt sĩ Nguyễn Tiến Nhẫn; đặc biệt là ký ức của thân phụ nhà văn, là một nhà giáo mẫn tiệp…

Dựa trên những tư liệu khả tín trên đây, bằng tài năng của một nhà văn đã thành danh, Nguyễn Quang Lập đã tái dựng câu chuyện Làng ta có một anh hùng bằng sự pha trộn các yếu tố phi hư cấu với trí tưởng tượng (hư cấu) của nhà văn. Bằng cách ấy, nhà văn đã dẫn dắt người đọc trở về làng Phan Long của thị trấn Ba Đồn cách nay trên dưới tám chục năm, “chứng kiến” quá trình hoạt động và trưởng thành của một người anh hùng nhỏ tuổi ở “làng ta”. Cách “pha trộn” này vừa đảm bảo tính chân thực của các sự kiện và nhân vật lịch sử, tạo cảm giác tin cậy cho bạn đọc; vừa là cách khắc phục những “khoảng trống” và “điểm mờ” của lịch sử do tác động của thời gian và các yếu tố khác. Điều quan trọng hơn là người đọc được tiếp nhận những giá trị lịch sử-văn hóa thông qua một tác phẩm văn học, chứ không phải một tài liệu lịch sử thuần túy.

Cùng với nghệ thuật “pha trộn”- Phi hư cấu lai (Hybrid nonfiction), câu chuyện Làng ta có một anh hùng còn được Nguyễn Quang Lập kể bằng thủ pháp đồng hiện, vốn đã được tác giả sử dụng khá thành công trong nhiều tác phẩm văn học, sân khấu và điện ảnh nổi tiếng của mình. “Đồng hiện” là cùng lúc thể hiện những nhân vật, sự kiện của quá khứ, hiện tại và tương lai; để chuyển tải một thông tin tổng quan, một cái nhìn bao quát; để người tiếp nhận vừa trực quan cụ thể, vừa liên tưởng kết nối, hình dung đầy đủ hơn về những nhân vật và sự kiện được nêu. Tiểu thuyết Làng ta có một anh hùng có 2 nhân vật chính là Nguyễn Tiến Nhẫn và Mai Thị Lê. Trong đó, Mai Thị Lê vừa là nhân chứng lịch sử (cô bạn nhỏ thời thơ ấu và người yêu tuổi thiếu niên của Nguyễn Tiến Nhẫn), vừa là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất (xưng “em”). Trong mỗi “chương” (mục) của tác phẩm, mở đầu là cuộc trò chuyện của tác giả Nguyễn Quang Lập với nhân chứng lịch sử Mai Thị Lê, 91 tuổi, ở thời hiện tại, khi nhà văn viết tập truyện này. Tiếp đó là phần độc thoại-tâm tình của cô bé Mai Thị Lê cách nay trên dưới tám chục năm, với nhân vật Nguyễn Tiến Nhẫn; thực chất đó là câu chuyện kể về người anh hùng theo trình tự thời gian đã thuộc về quá khứ. Theo đó, phần trò chuyện giữa cụ bà Mai Thị Lê với nhà văn Nguyễn Quang Lập có tác dụng như những lời “phi lộ” hay những dòng “lạc khoản” để người đọc hình dung rõ hơn, tiếp nhận đầy đủ hơn những thông tin của cô bé Mai Thị Lê trong phần độc thoại-tâm tình tiếp theo. Ngoài hiệu quả nghệ thuật trên đây, phương pháp đồng hiện này còn giúp cho câu chuyện sinh động, linh hoạt hơn; đặc biệt tạo cảm giác tin cậy hơn khi nhiều chi tiết/sự kiện của quá khứ có sự chứng kiến hoặc can dự của những nhân vật nổi tiếng trong làng, như: Người rải truyền đơn năm 1933 ở chợ phiên Ba Đồn là ông Hoàng Lai, 1 trong 3 đảng viên của Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Phan Long-Ba Đồn; chú cu Chích thường đến gặp Nguyễn Tiến Nhẫn vào ban đêm, sau này là Đại tá Công an Nguyễn Văn Chích; chú Trợ Tỷ phụ trách Hướng Đạo sinh ở Ba Đồn, sau này là nhà giáo Nguyễn Văn Tỷ, Phó Hiệu trưởng-Bí thư Đảng ủy Đại học Sư phạm 1 Hà Nội; ông Quản Đại là cán bộ Việt Minh cài vào hàng ngũ địch, làm đến đồn trưởng khố xanh, sau này là Trung tá Quân đội Nguyễn Thái Đại, nhạc phụ của Giáo sư địa chất Nguyễn Quang Mỹ, anh ruột của nhà văn Nguyễn Quang Lập v.v…

Làng ta có một anh hùng là tiểu thuyết lịch sử hiện đại. Tác phẩm tái hiện khá sinh động phong trào đấu tranh cách mạng ở một làng quê cụ thể, trong phong trào cách mạng chung của cả nước, giai đoạn tiền khởi nghĩa tháng 8-1945 và những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thông qua việc khắc họa hình tượng một thiếu niên yêu nước, một chiến sĩ điệp báo trẻ tuổi. Đồng thời, tác phẩm cũng đầy ắp những kiến thức lịch sử, văn hóa, địa lý… và điều kiện kinh tế-xã hội của một vùng đất từng là trung tâm thương mại nổi tiếng lâu đời ở miền Trung. Có lẽ, ký ức tuổi thơ và tình yêu quê hương là động lực chính thôi thúc tác giả viết tiểu thuyết này và đây cũng là yếu tố chính làm nên sự thành công của tác phẩm. Những ân tình xóm Cây Bàng, xóm Cau, xóm Gát, phố Chợ…; Những địa danh thân thương cầu Phôốc, cầu Kịa, sông Gianh, núi Chóp Chài…; Những mùa rạm bè, những phiên chợ bò… cùng những đặc sản ẩm thực như: bánh tráng, bánh canh… khiến những độc giả chưa từng biết đến Ba Đồn, cũng thổn thức chia sẻ. Và đặc biệt, làng Phan Long-thị trấn Ba Đồn của tác giả còn là một cái nôi của phong trào cách mạng tỉnh Quảng Bình. Nhà văn không giấu nổi niềm tự hào khi kể: “Hòa bình lập lại năm 1954 mới biết, hóa ra chín phần mười dân làng Phan Long theo Việt Minh. Hóa ra quán Phở Tới, Nhậu Đê của ông Bếp Tới là nơi in truyền đơn, may cờ đỏ sao vàng. Hóa ra, dưới gốc cây bàng trước nhà ông Vĩnh Tường là kho vũ khí của Việt Minh. Chú Hồ Nhỏ, con tri phủ Hồ Ngân chuyên săn lùng Việt Minh, hóa ra là Việt Minh gộc. Con cháu tri phủ Hồ Ngân sau này đều là những trí thức cách mạng, giữ nhiều cương vị cao của chế độ ta. Quản Thượng bị giết, Quản Đại về thay đồn trưởng khố xanh để điều tra thủ phạm, hóa ra cũng người của Việt Minh nốt (trang 98)…

Nhà văn Nguyễn Quang Lập sinh năm 1956, Kỹ sư vô tuyến điện, Thượng úy cựu chiến binh, thuộc thế hệ đầu tiên của dòng Văn học Đổi mới. Hầu hết các tập truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng về đề tài chiến tranh của ông, như: Tiếng gọi nơi mặt trời lặn; Tình cát; Chuyện nhà quê; Cây Sến lửa… đều viết về miền Trung, Quảng Bình và Ba Đồn, nơi ông sinh ra và lớn lên. Và lần này là tiểu thuyết lịch sử Làng ta có một anh hùng

NHẬU NHẸ BA MIỀN



Dân viết lách thường hay tụ bạ nhậu nhẹt, phần vì ham vui, rời khỏi bàn làm việc, sau khi một mình chống chọi với “pháp trường trắng”, đa phần đều vì muốn tìm kiếm bạn bè giải stress; phần vì nhu cầu tìm kiếm thông tin, nhặt nhạnh tư liệu sống quanh bàn nhậu. Đôi khi nghe lỏm được nhiều ý tưởng cực hay, nhiều đề tài hấp dẫn bạn bè nói ra. Bây giờ nhậu nhẹt ba miến na ná nhau, ngày xưa khác nhau lắm. Sài Gòn sôi động, đời sống chảy xiết, dân nhậu Sài Gòn, là nói cánh viết lách, sáng dậy sớm hẹn nhau đi ăn sáng cà phê nói chuyện công việc, rồi cắm cổ làm việc cho đến chiều tối xong việc mới nhậu nhét tới số, có khi kéo dài tới khuya.

Nhậu nhẹt ra nhậu nhẹt, mọi người quẳng hết việc, hát hò chọc quê chơi vui, đúng là dân nhâu chuyên nghiệp. Anh nào gọi đi nhậu anh đó trả tiền, luật bất thành văn từ xưa đến nay. Không như dân Bắc cứ gọi nhau đi, nhậu xong ai có tiền thi trả, thành thử đến giờ thanh toán cứ nhìn nhau nói cười nhàn nhạt, nhiều anh cứ đúng giờ đó thì nhìn đồng hồ đứng dậy, nói mình có việc phải về sớm, bí quá thì nhảy đại vào toilet, hi hi.

Sài Gòn mỗi trận nhậu thường chia thành ba hiệp, hiệp một bia hơi, uống mồi chừng dăm bẩy vại là kéo nhau đi karaoke, hội hát bằng mồm hội hát bằng tay. Cuối cùng thì nháy nhau đi massage, kẻ massage sấp người massage ngửa. Sau đó thì biệt tăm, có khi nửa năm chẳng gặp nhau.

Sài Gòn lắm việc, bạn bè từ xa đến, sơ thì mời nhau cà phê ăn sáng, thân thì nhậu một trận tơi bời rồi lặn mất tiêu, ít ai mờt bạn về nhà. Nhiều người mới vào Sài Gòn hay bị sốc. Đã quen thói ở miền Trung miền Bắc, hễ có bạn tới là đánh đu với bạn suốt ngày, nay thấy bạn lặn mất tiêu suốt kỳ mình ở chơi, đến ngày về gọi điện chào cũng chỉ nói đi mạnh giỏi nghen, cũng chẳng thầy tiễn tiếc gì thì ngạc nhiên lắm, đôi khi tủi thân, bức mình nữa.

Ngược lại gần Sài Gòn lần đầu ra Bắc cũng hay bị sốc. Sáng mấy anh quen gọi đi nhậu, chiều cũng mấy anh đó đón đi, ngày mai ngày kia vẫn mấy anh đó đến ngày ra đi cũng mấy anh đó. Nhiều người cứ băn khoan không hiểu sao người ta mất quá nhiều thời giờ vì mình, đâu biết thời đó cánh viết lách xứ Bắc chỉ có một món tiêu xài thoải mái, đó là thời gian.

Dân Hà Nội cà phê không ham, công việc cũng chẳng nhiều, ngủ dậy muộn, ăn sáng xong làm mấy chén chè mới túc tắc đến công sở. Vật vờ vào ra cho đến trưa, giờ cơm trưa cũng là giờ đàn đúm, đến chiều tối lo về với vợ. Phàm đã chui vào chuồng lập tức nội bất xuất ngoại bất nhập, cố gắng làm anh chồng ngoan cho đến sáng hôm sau. Nhậu nhẹt nhiều khi như hợp, bàn đủ chuyện trên trời dưới đất, cãi nhau ỏm tỏi.

Thi thoảng mới có cuộc nhậu chia làm ba hiệp, hiệp một nhậu say chí tử, hiệp hai mới kéo nhau đi hát hay massage. Nhưng quân số hiếp hai thường mất đi một nửa, đủ thứ lí do để bỏ cuộc, người sợ vợ, kẻ sợ quan trên nhìn xuống người ta trông vào.

Dân nhậu Hà Nội quan tâm đến cái view, thoáng đãng yên tĩnh càng tốt vì họ cần nói chuyện, cuộc nhậu nào cũng có nêu vấn đề. Cánh viết lách Hà Nội ngồi với nhau mỗi ông là một ông trời con, không việc gì không phán được, ông nào ông ấy phát ngôn tầm cỡ ủy viên Trung ương, rất ghê. Hết nhậu về ông sở lại bóp miệng vật vờ vào ra vô cùng khiêm tốn, hi hi.

Dân viết lách miền Trung thường nhậu nhẹt bất tử, bất kể giờ nào miễn có tiền. Việc vàn chẳng có ba lăm, thời gian không thành vấn đề, chỉ cần cái cớ là kéo nhau vào quán. Bạn bè ở Nam ra, ở Bắc vào là cái cớ tuyệt vời đề khai báo với vợ, có thể đi thâu đêm suốt sáng.

Miền Trung vẫn giữ được thói quen bạn bè từ xa đến không thể không mời vé nhà, làm mâm cơm đãi bạn, nhậu nhẹt ở nhà chán chê rồi mới đi ra quán. Khách khứa nhiều người chạy sô ăn cơm nhà bạn cũng đủ chết xác nhưng không thể từ chối, bữa cơm nhà như là chứng chỉ của tình thân, sự quý trọng, thiếu nó lắm người rất áy náy.

Không có khác khứa thì tu bạ quán cà phê, ngồi chán thế nào cùng có người kéo đi quán, nhậu hết cuộc này sang cuộc khác, tối vừa về nhà có người gọi lại vọt, các bà vợ chỉ nguýt lườm ít ai dám nói. Ngày nào cũng nhậu, ít ai có khả năng bao sân, thành ra có kiểu nhậu nối dài. Anh đến sau bảo kể từ đây là phần của tôi nhé, mỗi anh chịu thanh toán một khúc, cứ thế nối dài ra mãi.

Về sau cánh nhà báo có kiểu nhậu bắt Fulro, gọi người ra trả tiền hộ. Nhậu giữa chừng thì gọi ai đó, thường là các ông chủ doanh nghiệp, các quan chức trong tỉnh, mời họ ra nhậu chơi. Mấy ông này lập tức hiểu ý, vọt ra làm đôi ba chén, góp vui đôi ba câu nói giành lấy bill thanh toán cai rẹt. Không phải ai cũng thích kiểu nhậu bắt Fulro, vì nó lấy đến đao đức nghê nghiệp, nhưng tỉnh nào cũng có một anh bắt Fulro cực tài, rất đáng sợ.

Ngày nay văn hoá nhậu ba miền đã có nhiều điểm tương đồng. Dân nhậu Bắc, Trung đã chuyên nghiệp tựa dân nhậu Nam. Cánh viết lách Hà Nội không chỉ nhậu vấn đề, nếu đờn ca cùng rất phê. Cánh viết lách Sài Gòn không chỉ nhậu đàn ca mà nhậu vấn đề cũng rất nổ. Cánh viết lách miền Trung đã có nhiều việc làm hơn, anh nào cũng công tác với vài ba tờ báo ở Hà Nội, Sài Gòn, nhậu nhẹt đả có giờ, không còn triền miên như ngày xưa nữa. Cả ba miền bây giờ chỉ nhậu hết hiệp một là về, ít ai sa đà sang hiệp hai hiệp ba tốn tiền mất thời giờ phí sức.

Phục vụ nhà hàng ba miến củng có niêu đổi khác. Miền Bắc, miền Trung học miền Nam đã thực bụng coi khách hàng là thượng đế. Nhân viên nhà hàng Hà Nội biết mềm mỏng lịch lãm nhiệt tình, đã mất đi khá nhiều các bộ mặt lạnh lùng, khinh khỉnh di chứng thời bao cấp. Nhân viên nhà hàng miền Trung cũng tiến bộ rất nhanh, không còn nhiều nhà hàng cho nhân viên ra tranh giành nhau chặn bắt khách hàng, bắt được rồi gọi gì cũng ra, dạ riết mà chẳng thấy đưa món ra, lại ra. Hỏi vì sao chưa đưa món ra, lại dạ. Nói tôi hỏi vì sao chưa đưa món ra dạ gạ cái gì, vẫn cúi đầu lễ phép dạ dạ gì, tức phát điên. Việc ấy bây giờ tuồng như đã chấm dứt. Có lẽ văn hoá dịch vụ bao cấp sắp chết thật rơi chăng? Mừng.