Ngũ khúc về một người thầy

Nguyễn Quang Lập


1. Một trong những đáng tiếc của tôi khi nhớ về tuổi nhỏ là tôi không được học văn với thầy Phan Xuân Hải, dù tôi gần gũi với thầy từ tấm bé.

Năm ba tuổi tôi đã gặp thầy. Ấy là tết Kỷ Hợi 1959 thầy vào thăm tết nhà tôi. Tôi nhớ là vì lần đầu tiên tôi có được năm hào mừng tuổi. Ba tôi là thầy giáo già, tết nào cũng đón nhiều cô thầy. Tôi nhớ thầy cô nào cũng mừng tuổi cho tôi năm xu hoặc một hào, riêng thầy Hải mừng tuổi cho tôi tờ năm hào mới cứng. Tôi không biết năm hào to nhỏ ra sao. Khi ba thất sắc kêu lên: “Ôi thầy cho cháu nhiều quá!”, tôi đoán chừng đồng năm hào chắc to lắm. Mà to thật, mãi đến chín năm sau tôi mới có lại đồng năm hào lần thứ hai, vẫn của thầy Hải.

Tôi nhớ thầy Hải vì một chuyện khác nữa, có lẽ đây là chuyện khiến tôi nhớ thầy lâu hơn. Ngày tết thấy khách đến nhà tôi thường đứng ôm cột nhà chờ khách mừng tuổi. Con nhà nghèo ba, bốn tuổi chưa đủ tuổi mặc quần, mỗi cái áo mới đeo lấy ba ngày tết không chịu thay. Các thầy đến nhà thường chào tôi bằng cái véo chim thân thiện. Có thầy còn búng một phát đau điếc tai. Tôi rất khó chịu, sợ và ghét nữa, nhưng vẫn để yên cho các thầy búng véo để kiếm lấy năm xu, một hào. Riêng thầy Hải không véo, không búng, thầy bế tôi lên, khen tôi đẹp trai và cho tôi năm hào. Sự kiện đầu đời to lớn thế làm sao tôi quên được.

2. Nhà tôi năm Kỷ Hợi 1959 ở Cầu Phôốc, năm Quý Mão 1963 dời về góc sân vận động sát với con hói chảy ra sông Gianh, phía sau trường cấp 2. Tôi sáu tuổi, về nhà mới chạy loăng quăng và phát hiện ra nhà thầy Hải chỉ cách nhà tôi chừng 100m. Thầy Hải dắt tôi vào giới thiệu với cô Kỳ, thằng Dương ba tuổi và con Thuỷ gần hai tuổi. Lần đầu tôi thấy con nít mà cũng mặc quần, đó là con thầỳ Hải. Thằng Dương còn đi đôi dày ủng nhựa màu trắng, nó trắng trẻo cao ráo lại đi đôi ủng trắng, giống ông tây con, sang quá là sang. Nhà thầy Hải cũng sang quá là sang. Ngôi nhà tranh vách đất ấy ngày nay chỉ là nhà nghèo, chỉ đỡ nhếch nhác hơn nhà tôi. Nhưng dưới cái nhìn thằng bé sáu tuổi con nhà nghèo thời ấy, nó thật giàu sang. Phòng khách đầy tranh và hoa, tranh của thầy Hải, hoa tươi hoa giấy của cô Kỳ. Nền nhà chỉ là nền đất nhưng sạch và láng bóng như nền xi măng, buồng ngủ buông một mành tre mỏng như giấy, hiên sau treo một lồng chim vẹt, bàn ăn đặt một bình hoa tươi… toàn những thứ nhà giàu mới có. Mạ tôi nói, nhà thầy Hải giàu vì thầy vẽ tranh truyền thần, mỗi bức bốn, năm đồng, khắp huyện người ta đua nhau đặt. Thầy còn vẽ tranh Bác Hồ nữa. Đắt lắm. Tranh Bác Hồ đặt trên lầu, ngay cửa ra vào Bách Hoá Tổng Hợp, huyện trả 30 đồng đâý. Tôi được đi chơi với con nhà giàu là thằng Dương và con Thuỷ. Con Bích lúc này đang ẵm ngửa. Cô Kỳ giao nhiệm vụ giữ em, dắt thằng Dương con Thuỷ đi chơi. Chúng tôi thường ra bờ hói sau nhà bắt rạm bè và còng gió. Chẳng bắt được, chỉ đuổi theo chúng cho vui thôi. Bờ hói cách nhà có một đoạn, khi đi không sao, quay về con Thuỷ thường nhõng nhẽo bắt tôi cõng. Dù không thích nhưng tôi vẫn vui vẻ cõng nó về để báo cáo kết quả “giữ em” với cô Kỳ, thế nào cũng được cô thưởng cho một món gì đó thật ngon, đồ ăn “nhà giàu” toàn thứ ngon.

Hôm ấy, cũng là hôm cuối cùng ngày bé tôi đến nhà thầy Hải, tôi cõng con Thuỷ chạy thẳng vào nhà. Chẳng may vấp ngã làm đổ giá vẽ tranh truyền thần, quờ tay làm đổ luôn lọ mực màu, rơi đúng tranh truyền thần thầy Hải đang vẽ dở. Bức truyền thần nhem nhuốc mực màu. Thầy Hải từ trong nhà chạy ra, đứng lặng ngắt mặt tái đi. Bốn mươi năm sau thầy mới kể, đó là tranh truyền thần một ông già vừa mất, con ông dục như cháy nhà, thầy đã hẹn một giờ chiều đến lấy. Thầy cúi mặt vào bức tranh, hình như cố nghĩ cách cứu vãn, ngước lên thấy bộ mặt dúm dó của tôi thầy mỉm cười, nói, không sao đâu, để thầy vẽ lại. Cô Kỳ làm như không có gì xảy ra, vẫn vui vẻ nói cười, cầm cái bánh trung thu đưa cho, tôi không nhận, chạy ù đi. Từ đó không dám bén mảng đến nhà thầy nữa.

Thỉnh thoảng thầy vẫn sang nhà tôi uống rượu với ba. Tôi núp né. Cô Kỳ vẫn sang nhà khi cho tô canh khi cho mớ rau, tôi vẫn núp né. Cô tìm, vui vẻ túm tay hỏi, sao không sang nhà cô chơi? Tôi chẳng biết nói sao. Làm hỏng một bức tranh “truyền như thần” với đứa trẻ ba tuổi tội ấy quá to.

3. Năm 1965 mùi chiến tranh đã dậy khắp Thị trấn, người ta đua nhau làm hầm hào. Thầy Hải làm một cái hầm chữ A thật to, cả nhà thầy có thể ngủ trong đó. Nhà tôi không có hầm, ba đi học chính trị ở Hà Nội, mạ đi theo cơ quan sơ tán ở Quảng Liên. Mấy chị em cơm cháo nuôi nhau, suốt ngày chỉ nghĩ mỗi chuyện ăn, hơi sức đâu nghĩ chuyện đào hầm.

Trận bom Mỹ đầu tiên vào khoảng cuối tháng sáu thì phải, 8 chiếc AD6 thi nhau thả bom xuống Long Thị và Long Hoà. Tôi đang chơi bờ hói. Bom nổ cả chùm xuống trường cấp 2, tôi tụt xuống hói, đứng ôm gốc bụi cây bên bờ. Giá tôi chạy sang hầm nhà thầy Hải sẽ chẳng việc gì nhưng tôi vẫn né nhà thầy. Nhiều người ào ào lội qua hói. Tôi thấy ông Năng đánh kẻng trường cấp 2, bọ thằng Toàn, đang đội rổ áo quần lội qua hói. Ông Năng rất cao, ra giữa hói sâu vẫn cố nhô được cái đầu đội rổ áo quân lên khỏi mặt nước. Ông không sợ chết, chỉ sợ ướt rổ áo quần, hi hi. Một quả bom nổ gần bờ thổi bay rổ áo quần. Ông Năng đứng giữa hói khóc hu hu. Tôi ôm gốc bụi cây đứng nhìn ông Năng khóc. Một khối đất đập xuống lưng tôi đẩy tôi chìm nghỉm xuống hói, một quả bom khác đẩy tôi lên, văng ra giữa hói. Tự nhiên tôi biết bơi ngửa và bơi sang được bờ bên kia. May thế không biết. Tôi chạy sang đồng khoai Xóm Cầu, núp trong bụi cây rưới nhìn máy bay thả bom Ba Đồn thêm một giờ nữa mới ngưng. Máy bay đi rồi dân Ba Đồn không dám về, sợ nó quành trở lại. Khoảng ba giờ chiều tôi đang moi trộm khoai sống, chợt một bàn tay vỗ nhẹ lưng, ngước lên, là thầy Hải. Thầy ôm chặt lấy tôi, nói, thầy tưởng bom vùi em rồi!

Mới biết khi tôi ở bờ hói, thầy Hải chạy sang nhà tôi, thầy biết ba mạ tôi đi vắng, anh Huy chị Nghĩa đi làm xa, để mấy đứa con nít ở nhà, hầm hố không có. Thầy thu gom anh Tường, anh Thắng đưa sang hầm nhà thầy. Thằng Vinh theo mạ lên Quảng Liên, còn tôi không thấy đâu. Mọi người tưởng tôi đã bị bom vùi.

Thầy Hải lầm lũi cõng tôi một mạch từ Xóm Cầu ra Lòi Dài là nơi dân Thị trấn vừa kéo nhau ra đấy sau trận bom khủng khiếp. Sau lưng to bè một vòng tay tôi không xuể, thốt nhiên tôi thấy thầy gần gũi vô cùng, gần gũi như một người cha.

4. Chiến tranh đã đẩy hai nhà ra rất xa. Trong suốt cuộc chiến tranh chưa một lần tôi biết đến nhà thầy. Dầu vậy thầy vẫn rất gần gũi. Năm học lớp ba, năm 1967, bài tập làm văn học kì một tôi được 9,5 điểm. Đó là điểm văn cao nhất của tôi trong suốt thời học phổ thông. “Hãy tả con gà chống Mỹ của em”, đề do cụm (3 xã) ra. Cô Ngoan nói điểm văn của tôi cao nhất cụm. Tôi sướng âm ỉ suốt tuần.

Một chiều tôi bắt rạm về. Thấy tôi ở ngõ mạ đã kêu to, thầy Hải vừa lên đây tìm mi! Tôi giật thót, sợ có chuyện gì. Mạ vui vẻ kể. Thầy Hải lên phòng giáo dục họp giáo viên dạy giỏi cấp 2, nghe mấy thầy cô dạy giỏi cấp một khen “Thằng cu con thầy Đạng có bài văn hay lắm”, thầy quyết tìm cho ra bài văn, đọc xong thầy lên đây thưởng cho mi năm hào. Thầy chờ mi không được, về rồi. Tôi cầm năm hào mới cứng vân vê, hỏi, thầy có nói chi không mạ? Mạ cười hả hê, nói, thầy nói với mạ, “Em mà chấm thì em cho bài văn mười chín điểm rưỡi.”, he he thầy nói quá, văn chi lại có thứ văn mười chín điểm rưỡi. Tôi thêm một tuần âm ỉ sướng.

Cuối năm lớp 3, thi học kỳ hai môn văn đề thi “Trường em”, tôi quyết viết thật hay cho được 10 điểm, hy vọng kiếm được một đồng từ thầy Hải. Kết quả chỉ có 7 điểm bọ. Thầy cô trong trường chẳng ai khen cũng chẳng ai chê. Tôi hơi buồn một chút nhưng cho qua rất nhanh. Sang năm lớp 4 xuống Pháp Kệ thi học sinh giỏi, đang đứng lớ ngớ cổng trường bỗng thầy Hải đứng ngay trước mặt. Thầy coi thi bên khu học sinh giỏi cấp 2, biết tôi thi ở đây thầy chạỵ sang tìm. Hỏi chuyện ba mạ đôi câu thầy xoay sang hỏi, em biết vì sao bài văn học kỳ hai được có bảy điểm không? Tôi trợn mắt há mồm, té ra thầy lại tìm đọc bài văn của tôi. Thầy nói, em viết được, câu kéo đâu ra đấy, tu từ giỏi, có điều không thật bằng bài trước. Văn muốn hay thì phải thật. Tôi cúi đầu xấu hổ, quả thật bài đó tôi “ khua môi múa mép” hơi bị nhiều. Thầy ôm đầu tôi, nói, đừng buồn, cố lên, khó mấy cũng đừng bỏ cuộc.” Rồi thầy vội vã quay về khu học sinh giỏi cấp 2.

Thầy không cho tôi hào nào, chỉ cho hai lời khuyên ấy. Tôi mang lời khuyên thầy Hải vào cuộc thi, đề thi “Em hay tả cô dân quân quê em”, đề thì quá khó vì tôi chẳng biết dân quân cũng chẳng thấy cô dân quân nào, chỉ nghe nói. Nhớ lấy thầy dặn “Khó mấy cũng đừng bỏ cuộc.” tôi đã cố làm xong. Bài chỉ đạt 6,5 điểm nhưng chiếm giải nhì huyện. Nếu không có lời khuyên “Văn muốn hay thì phải thật”, tôi lại “khua môi múa mép” chắc giải rút cũng không có.

5. Bốn mươi năm sau tôi trở thành bạn văn, đồng nghiệp của thâỳ. Thầy có chục vở kịch, tôi có chục cuốn sách. Khi về quê trưa nào tôi cũng đến nhà thầy ngủ trưa và tán gẫu vì nhà thầy gần con hói rất mát. Thầy chẳng nói gì về chuyện văn chương, viết cái gì viết thế nào. Tôi cũng thế. Thầy trò chỉ nhậu và nói chuyện đời, xong rồi tôi viết văn thầy viết kịch, gặp nhau cũng chẳng khoe nhau có cái này được cái kia.

Cho đến một ngày tôi bị tai nạn, chấn thương sọ não, liệt nửa người, vào năm 2001. Thầy ra Hà Nội thăm tôi, ngồi rất lâu, chỉ nói một câu: Mình đọc sách Lập rồi, toàn bộ văn Lập có thể tóm một chữ, là chữ THẬT. Tôi kể lại lời khuyên của thầy năm 1968 ở Pháp Kệ, “Văn muốn hay thì phải thật”. Thầy trố mắt lên, hỏi, mình có khuyên Lập thế à? Rồi thầy ngồi lặng đi, cảm động. Trước khi ra về thầy nắm tay tôi thật chặt, nói, cố lên nhé, khó mấy cũng đừng bỏ cuộc. Tôi ứa nước mắt. Thì ra cả đời văn tôi chỉ làm theo hai lời khuyên của thầy Hải.

Củ Chi ngày 13/11/2021
NQL



Có hay không châu Thuận Chính và việc thống nhất đất nước của Quang Trung?





Sách Đại Nam nhất thống chí, cuốn III phần Diên Cách, chép: “ Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ đánh đuổi người Trịnh về Bắc, chiếm cứ đất này, cũng gọi là Động Hải, lại hợp hai châu Nội Bố Chính và Ngoại Bố Chính1 làm châu Thuận Chính”. Căn cứ vào đây các nhà sử học và dư địa chí đều đinh ninh có một châu Thuận Chính thời Tây Sơn ở tỉnh Quảng Bình. Việc Quang Trung xoá bỏ giới tuyến Sông Gianh, thống nhất hai miền Nam- Bắc nước nhà là lẽ đương nhiên, không cần phải bàn cãi.

Tuy nhiên. Tra cứu hầu khắp sách sử và dư địa chí nước nhà đều không nhắc tới việc hợp nhất hai châu Bắc- Nam Bố Chính của Nguyễn Huệ- Quang Trung. Sách Đại Nam nhất thống chí là sách Dư địa chí chỉ viết gọn một câu vậy chứ không chỉ ra ngày tháng năm nào xảy ra việc Quang Trung thống nhất hai châu nói trên. Đại Việt sử Kí toàn thưKhâm Định Việt sử thông giám cương mục là hai bộ sử được xem là chính sử của nước ta cũng không hề nhắc đến. Đặc biệt bộ Đại Nam thực lục là bộ biên niên sử kĩ lưỡng nhất từ thời các chúa Nguyễn đến thời các vua Nguyễn cũng tuyệt không nhắc đến.


Vậy có hay không châu Thuận Chính từ việc hợp nhất hai châu Nam- Bắc Bố Chính của Quang Trung? Xem lại sử xưa, kể từ năm 1786 Tây Sơn giành được Phú Xuân, có ba lần Quang Trung ra Bắc2 thì cả ba lần đều gấp gáp vội vã, chiến sự đang kỳ gay cấn, chưa phải lúc nghĩ đến việc quản trị đất nước. Hơn nữa trước 1788, Nguyễn Huệ còn dưới trướng Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc, quản trị đất nước không phải việc của ngài.


Tới tháng 11-1788 Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, được Nguyễn Nhạc cho quản lý từ Quảng Nam ra Bắc, cũng là lúc Nhà Thanh xâm lược. Ngài phải đi đánh giặc lớn, việc quản trị đất nước tất nhiên để sau. Sau đại thắng quân Thanh 1789, Nguyễn Huệ vẫn tứ bề thọ địch. Phía Bắc vua Lê được nhà Thanh nuôi dưỡng quậy phá đủ cách. Phía Nam Nguyễn Ánh nhờ Pháp bảo trợ, lớn mạnh không ngờ. Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc thua liểng xiểng. Nguyễn Huệ chưa kịp ra tay thì đột tử.


Trong một không gian lịch sử chật hẹp ( 3 năm!) và khốc liệt như vậy, không một nhà vua nào có thể tính việc sửa sang địa chính tách châu này nhập châu kia. Và việc này mới quan trọng: Trước đó chục năm, Trịnh Sâm đã cho nhập hai châu Nam- Bắc Bố Chính rồi. Sách Đại Việt sử ký tục biên chép: ” Định Dậu, năm[Cảnh Hưng] thứ 38 (1777)(…) Trước kia, Bắc Bố Chính thuộc Nghệ An, Nam Bố Chính thuộc Thuận Hoá. Đến nay bầy tôi bàn hợp lại làm một, đều cho lệ vào Hà Hoa, trấn Nghệ An. Trịnh Sâm y cho.” Lẽ nào chục năm sau Quang Trung lại làm một việc thừa?


Trịnh Sâm không nói gì đến châu Thuận Chính. Tới năm 1801 vua Gia Long cũng không nói gì đến châu Thuận Chính, vua chỉ cho thay tên hai châu Nam- Bắc Bố Chính, thành Nội- Ngoại Bố Chính, cho thuộc vào Quảng Bình.


Thực ra việc nhập hai châu Nam- Bắc Bố Chính chỉ có tính biểu tượng về việc thống nhất đất nước mà thôi. Hiểu theo nghĩa thực sự quản lý được một đất nước thống nhất thì, Trịnh Sâm không thống nhất được đất nước cho dù 1774 dẹp được nhà Nguyễn chiếm được Phú Xuân. Nguyễn Huệ cũng không thống nhất được đất nước cho dù 1787 dẹp được nhà Trịnh chiếm được Thăng Long.

Vẫn hiểu theo nghĩa đó, Gia Long mới thống nhất đất nước kể từ khi ngài lên ngôi vào 1802. Ngài đã giữ được vẹn toàn đất nước cho tới khi cháu chắt ngài để mất nước vào năm 1885.


Nguyễn Quang Lập

…………………..
(1) Hai châu Nam Bắc Bố Chính thuộc Bắc- Nam Sông Gianh thời Trịnh- Nguyễn phân tranh 1558- 1672 và hơn trăm năm sau đó.
(2) Lần thứ nhất năm 1786, Quang Trung đi bằng đường biển, ngài không qua châu Bố Chính như nhiều người nhầm tưởng. Sách Đại Nam thực lục chép: “Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân Tây Sơn theo đường biển thẳng tới đô thành An Nam (tức tỉnh lỵ Hà Nội ngày nay). Nguyễn Văn Huệ sai Nguyễn Văn Lữ giữ Phú Xuân, tự đem thủy binh tiến kế ra.” Sách Đại Việt sử ký tục biên chép rõ hơn: Nghe Nguyễn Hữu Chỉnh bàn đem quân ra Bắc, “Huệ là người quả quyết. Nghe Chỉnh nói đúng ý mình. Bèn sai Hữu Chỉnh đem thuỷ binh Tuyên phong ra cửa Đại An còn Huệ tự thống lĩnh đại quân vượt biển tiến theo.”



Thương nhớ mưa phùn

Tuỳ bút Nguyễn Quang Lập




Giữa trưa đầy nắng Sài Gòn chị bán cà phê vỉa hè chợt nói, sắp tháng chạp rồi nè. Thốt nhiên lòng  se lại. Ừ nhỉ, tháng chạp sắp về rồi. Mưa phùn sắp về với Hà Nội rồi. Tôi đã đi qua hầu khắp những miền quê có mưa phùn. Chẳng biết có thiên vị không, trước sau tôi vẫn đinh ninh nói đến mưa phùn là người ta nhớ ngay đến Hà Nội.

Nhớ mùa sim chín của Nguyễn Quang Lập

Trần Thị Thuý Diễm




Kí ức như vị ngọt lịm nơi đầu lưỡi của sim chín. Nó luôn khiến ta thích thú, bồi hồi khi nhớ về. Những dòng mưa nỗi nhớ ấy đã tuôn trào dạt dào trong cuốn sách “Nhớ mùa sim chín” của Nguyễn Quang Lập.

Dòng sông tuổi thơ với những tháng ngày nghèo khó hiện lên với biết bao sự kiện ngập tràn trong nhung nhớ. Cảnh mấy anh em Lập thòm thèm giành nhau chiếc bánh Trung Thu hay Lập mong ước có được chiếc đèn ông sao để khoe chúng bạn... sao mà giống tôi hồi nhỏ quá đỗi. Đọc mà thấy thương vô cùng.

Cuốn sách cuốn tôi vào miền kí ức ấu thơ của tác giả. Ở đó, có kỉ niệm thơ bé, ông cùng rong chơi với cái Hà, cái Nhím, những ngày tết háo hức ngắm nhìn cây nêu, sung sướng khi được mặc áo mới, được nhận lì xì.

Lấp lánh trong nỗi nhớ còn có kỉ niệm buồn về chú chó Giôn, người bạn thuở ấu thơ, sự cảm phục trước tấm lòng của Đức, chàng trai dám bỏ mười bảy tỷ để dựng lại đình làng khi nó chẳng còn lại gì sau bom đạn chiến tranh. Và còn biết bao kỉ niệm nữa ùa về trên trang giấy như cả vườn hoa nở rộ khoe sắc khoe hương.

Có nỗi nhớ nhẹ nhàng như gió phớt qua, có nỗi nhớ ngọt dịu như hương quỳnh thoang thoảng trong đêm, có nỗi nhớ gợi lên sự day dứt, xót xa… Tất cả quyện hoà thành một vùng trời ửng hồng tuổi thơ.

Những câu chuyện được kể lại bằng giọng chân thành, sử dụng nhiều phương ngữ Quảng Bình. Những câu văn không hề màu mè, không cố ý trau chuốt sóng sượng mà bình dị như lời ăn tiếng nói hằng ngày, giàu sắc màu địa phương, góp phần thể hiện tình yêu quê hương của tác giả.

“Nhớ mùa sim chín” là một tác phẩm dễ đọc, dễ cảm và dễ đi sâu vào lòng người. Thứ nhựa cuộn trào làm nên sức sống cho cuốn sách chính là tình cảm tự nhiên và chân thật vô ngần.

Con chim xanh biếc bay về… tuổi yêu




Trước đây tôi đã ví văn xuôi Nguyễn Nhật Ánh như một con tàu hơn một trăm toa - mỗi toa là một cuốn sách - đi từ ga mộng mơ của tuổi lên mười, qua ga rắc rối của tuổi teen, tới ga tình của tuổi yêu. Đến nay vẫn thấy đúng nếu hiểu ga và toa của “con tàu văn chương” Nguyễn Nhật Ánh theo thời gian của ký ức, không theo thời gian xuất bản sách.
Theo đó, ga tình cũng có hai chặng. Chặng đầu cho tuổi chớm yêu với Cây chuối non đi giày xanh, Bảy bước tới mùa hè, Hạ đỏ, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh... Chắc sẽ còn nhiều nữa, vì viết cho tuổi chớm yêu là sở trường của Nguyễn Nhật Ánh. Chặng sau cho tuổi yêu, chặng quyết liệt nóng rãy nhất cũng là chặng ngọt ngào đằm thắm nhất, bắt đầu với Mắt biếc, Ngồi khóc trên cây, Ngày xưa có một chuyện tình, và bây giờ là Con chim xanh biếc bay về.
Con chim xanh biếc bay về Lối đi riêng của Nguyễn Nhật Ánh

Viết cho tuổi yêu không là “độc quyền” của Nguyễn Nhật Ánh. Hầu hết các nhà văn đều viết cho tuổi yêu như Margaret Mitchell (Mỹ), Emily Bronte (Anh), hay dành cả đời mình cho tuổi yêu như Murakami (Nhật Bản)... Điều đó cho thấy nhà văn của tuổi thơ  đang gặp thử thách không hề nhỏ. Nhưng tuồng như Nguyễn Nhật Ánh không phải lo lắng gì, anh có sẵn lối đi cho tuổi yêu của riêng anh, một tình yêu khởi nguồn từ tuổi thơ, có nguyên cớ từ tuổi thơ, cùng triết lý nhà Phật từ - bi - hỷ - xả dành cho mỗi người trước ngưỡng cửa tình.
Có thể gói gọn mối tình trong Con chim xanh biếc bay về trong bốn chữ từ - bi - hỷ - xả với mối tình tay tư trong một bối cảnh Sài Gòn ngày nay; đó là hai khác lạ so với tất cả toa tình lớn bé trước đó của con tàu văn Nguyễn Nhật Ánh.
Khác lạ dễ thấy nhất là bối cảnh, ấy là một quán ăn nho nhỏ với mấy cái chợ quen quen giữa Sài Gòn thời nay. Bối cảnh thật khô khan với chuyện tình, không non xanh nước biếc, không mờ ảo sương khói của quá vãng như mọi chuyện tình khác của mọi nhà văn, và của Nguyễn Nhật Ánh. Ngay cả Murakami viết chuyện tình tới bậc thượng thừa cũng chưa bao giờ dám dùng một bối cảnh khô khan như thế.
Dám dùng bối cảnh khô khan đó để chuyên chở chuyện tình là một nỗ lực đáng khen của Nguyễn Nhật Ánh nhằm gỡ bỏ thói quen, tìm kiếm một lối riêng không giống mình và không giống ai. Rất mừng anh đã thành công. Chuyện tình tay tư rối như canh hẹ được chứa trong một bối cảnh quá ư đơn giản vẫn lãng mạn như thường, vẫn hút hồn người ta suốt 396 trang sách, kể cả hơn 100 trang trữ tình ngoại đề luôn có trong sách Nguyễn Nhật Ánh.
Tình trong Con chim xanh biếc bay về không là tình đau, tình đắng, tình cay, thứ tình muôn năm trong muôn ức vạn chuyện tình với niệm chú “yêu là chết trong lòng một ít” (Xuân Diệu) vốn được coi như một lẽ đương nhiên. Những chuyện tình đau-đắng-cay quen đến nỗi rất khó được bạn đọc cho là chuyện tình nếu thiếu một trong ba món đó, ấy vậy mà Nguyễn Nhật Ánh đã dám không xài. Ấy là sự khác lạ thứ hai.
Không có đau-đắng-cay nhưng hương vị của chúng vẫn đầy ắp trong câu chuyện tình tay tư này. Nói khác đi, những đau, đắng, cay thoắt xuất hiện thoắt biến mất nhờ nỗ lực sống vì nhau của mỗi người lấy tứ vô lượng tâm nhà Phật làm căn bản, chính là từ - bi - hỷ - xả. Tình nhờ vậy “không chết trong lòng một ít” mà còn đầy thêm lên, chan chứa tình người, tình đời.
Nói thêm cho rõ, tình trong Con chim xanh biếc bay về vẫn chỉ là tình tay ba như mọi chuyện tình xưa nay vì Tịnh trong câu chuyện không tham gia với tư cách người tình, nhưng Tịnh là chìa khóa của bộ ba Sâm - Khuê - Quyền; cô là người không thể thiếu khiến mối tình tay ba nghiễm nhiên trở thành mối tình tay tư. Thú vị là ở đó!
Trở lại với sự khác biệt thứ hai. Tình trong Con chim xanh biếc bay về là tình đầy, tình của từ - bi - hỷ - xả. Các nhân vật trong đó có thể lấy làm biểu tượng của tứ vô lượng tâm. Sâm là biểu tượng Metta (từ), sống vì người, yêu để dâng hiến. Bị xa lánh, bị mất mẹ, bị thù ghét, chưa một lần Sâm than thở, đừng nói giận hờn. Khuê là biểu tượng Karuna (bi), bền gan rũ bỏ buồn đau ra khỏi mình và ra khỏi người mà mình yêu thương. Với Khuê, mọi bực bõ, giận hờn với Sâm với Tịnh, cả với Quyền nữa, chỉ là nguồn gốc của yêu thương, của tha thứ. Tịnh là biểu tượng Mudita (hỷ) suốt đời lấy vui sống làm căn bản. Tất cả niềm vui của Khuê, Sâm và Quyền đều là niềm vui của cô. Quyền là biểu tượng Upekkha (xả), tự mình thoát khỏi sai lầm, vượt qua nỗi đau mất bố mẹ giàu sang, tìm hạnh phúc yêu thương với người bố nghèo khó. Hạnh phúc được làm con là hạnh phúc to lớn nhất trần đời, bất kể bố mẹ là ai. Cái “xả” của Quyền thật cảm động.
Từ - bi - hỷ - xả đã giúp cho Quyền - Khuê - Sâm có được không chỉ một mối tình mà bốn mối tình đầy. Cả bốn người không ai mất gì cả, trái lại mỗi người có gấp đôi hạnh phúc mà họ mong đợi. Bí mật này đọc đến trang cuối bạn đọc sẽ nhận ra. Đấy cũng là bí mật cho thấy vì sao đội ngũ người hâm mộ Nguyễn Nhật Ánh ngày một đông đúc trong hơn ba chục năm anh cầm bút.
 (Sài Gòn, ngày sinh nhật con gái)

Vào hội nhà văn






 Chẳng hiểu từ bao giờ có luật bất thành văn: ai là hội viên hội nhà văn mới được gọi nhà văn, còn lại là cây bút, cây bút trẻ, chiếu cố lắm mới được gọi nhà văn trẻ.

Đơn Dương, kiếp sau nhé!




 Chiều nay Hồng Ánh gọi điện cho mình, nói anh Đơn Dương mất rồi. Mình lặng đi mấy giây rồi hỏi, mất làm sao, vì sao mất? Ánh nói anh Dương bị tai biến,  ảnh kêu đau đầu rồi lịm đi. Đưa bệnh viện cấp cứu, bệnh viện mổ xong, ảnh đã tỉnh. Nhưng chỉ vài giờ sau thì hôn mê, bệnh viện bó tay.

Sông Hàn chiều nay



 

 

Đang ở Đà Nẵng, trong một khách sạn nghèo với Trung Trung Đỉnh. Năm giờ sáng đã mò dậy, lo viết nốt bài gửi sớm cho B.H vì mình biết khoảng hai tiếng nữa là bạn bè kéo đến bù khú tối ngày, không làm được việc gì.

Make love và take off





Nghiệm ra trong suốt đời mình, hễ việc gì mà mình cố đều thành cả, trừ việc học ngoại ngữ. Không biết cái đầu mình cấu tạo bằng chất gì mà không sao nuốt nổi món ngoại ngữ. Việc học ngoại ngữ của mình na ná việc cai thuốc lá vậy, học đi học lại bao nhiêu lần tóm lại how are you vẫn hoàn how are you

Chuyện trồng người và việc tăng học phí



 

 

 

Mấy ngày nay thiên hạ bàn tán xôn xao việc tăng học phí, mỗi năm tăng một ít, hu hu không nghe nói chất lượng giáo dục tăng hàng năm chỉ nghe nói học phí tăng hàng năm thôi. Năm tới mức học phí đại học tăng 2, 3 lần, mới nghe đã giật mình toát cả mồ hôi.

Còn nhớ ngày xưa đi học, sinh viên đi học không phải trả học phí, mình là dân Quảng Bình còn được hưởng “lương” một tháng 4 đồng, bằng 4 trăm ngàn bây giờ chứ không ít.  Đứa nào học giỏi còn được hưởng học bổng một tháng hăm hai đồng, đi học còn có tiền gửi về giúp bố mẹ, ngày nay nghe như chuyện trên trời nhưng xưa thì có đấy.

Thằng Viết (Nguyễn Xô Viết) bạn mình ra học Đại học Bách khoa, ba mẹ bà con cho 300 đồng, tiêu nửa năm hết có ba chục đồng. Nó không hút thuốc nghiện chè, tiêu tiền chủ yêu đi xe điện, xe bus. Thời đó xe bus một hào, xe điện 5 xu đi mệt nghỉ. Thấy dư tiền nó gửi về nhà 200 đồng “giúp ba mẹ cho các em ăn học.” Chuyện này xưa nay hiếm. Kể vậy để biết đi học ngày xưa không cần phải nộp một khoản nào cả, kể cả  giáo trình tài liệu cũng được phát không.

Ngày nay ai cũng ngán thời bao cấp, nghe nói đã phát sợ, có chuyện gì hay ho thời bao cấp cũng chẳng tin. Thực thì thời đi học đại học ngày xưa là giấc mơ hiếm thấy của sinh viên thời nay.

Ăn uống cũng không phải lo, đến bữa cứ việc xách miệng đến nhà ăn thôi. Mình học ở Bách Khoa Hà Nội không cần mang bát đũa, cứ tay không đến ăn, ăn xong thì thả mâm bát đó về, có người rửa bát đũa cho rồi. Nếu cầm bát đũa lên thấy dơ, dính mỡ lập tức doạ mấy cô nhà ăn, nói sẽ báo cáo nhà trường, các cô sợ bằng chết, hi hi.

Ngày xưa nghèo khổ, dân phải ăn độn bo bo, độn sắn ngô, chỉ có sinh viên và bộ đội là được ăn cơm 100%. Bộ đội phải đánh giặc giữ nước ưu tiên là phải rồi, sinh viên cũng được ưu tiên y chang bộ đội, chuyện đó ngày nay không ai hiểu.

Thư cụ Hồ gửi sinh viên học sinh năm 1946, năm đầu độc lập, phàm là học trò không ai là không nhớ.Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần rất lớn công học tập của các cháu”. Nhớ nguyên xi từng chữ không quên không lộn chữ nào vì tin tưởng vô cùng cụ Hồ không hề nói suông. Quả thật thời cụ Hồ còn sống,  giáo dục y tế nước dù rất thiếu thốn nhưng lúc nào cũng chứng minh được cụ Hồ không thèm nói suông với sinh viên học sinh.

 Thấm nhuận lời dạy cụ Hồ, học trò đứa nào đi học cũng đinh mình đi học là cho đất nước, thấy vừa oách vừa lo. Học cho mình thì quấy quá thế nào cũng xong, chứ học cho Đất nước không thể tào lao chi khươn được. Thành thử đứa nào đứa nấy lo bò ra học, cứ mỗi mùa thi đứa nào cũng sụt vài ba cân là chuyện thường.

Thầy cô đi dạy cũng thế, chả ai nghĩ đi dạy để kiếm cần câu cơm, lương tháng năm đồng ba cọc câu cơm cái gì, đi dạy cũng  làm theo lời Bác là trồng người. Bác nói rồi, “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Trồng cây vớ vẩn đã chẳng thành rừng, huống hồ trồng người, cô thầy ai cũng lo lắm, nhiều người mất ăn mất ngủ vì học trò.

Thành thử không có chuyện chạy điểm mua điểm, suốt năm năm học Bách Khoa mình chưa nghe hai tiếng giới hạn bao giờ, học bao nhiêu thi bấy nhiêu chẳng giới hạn giới heo gì hết. Toàn thi vấn đáp thôi, bắt thăm đề thi may nhờ rủi chịu, cứ hai thầy một trò các thầy vặn cho đến toát mồ hôi, nảy đom đóm mới mong kiếm được điểm 4, điểm 5 ( Ngày xưa điểm số hệ số 5).

Mình nhớ năm thứ hai thi toán Lý thuyết nhóm, cô bồ của mình ở Sơn Tây mổ ruột thừa mình phải lên chăm sóc, đến ngày thi bò về thi, bắt phải cái đề khó làm không ra bị điểm hai, mình không khóc mà cô dạy toán mình lại khóc. Kể vậy để nói ngày xưa đói nghèo cực khổ nhưng học thật thi thật, thành thử đứa nào trụ được sau này đều ăn ra làm nên cả.

Ngày nay đi học là để ấm vào thân, vinh thân phì gia triết lý của thời nay. Dạy và học theo quan điểm “thị trường là tất cả”, người ta lý luận “giáo dục là hàng hóa”, anh đi học là mua, anh đi dạy là bán. Có điều người bán tha hồ tăng giá, người mua không có quyền mặc cả, chất lượng “ hàng” xuống cấp không được kêu, ai kêu thì xin good bye go home.

Đã thế thì đừng nói đến trồng người. Ai đời thưở người trông cây lại bắt cái cây trả tiền công. Thế sau này cái cây ra quả thì ai ăn quả đây, không lẽ cái cây ăn lấy một mình? Bố mẹ cũng chỉ được hưởng một vài quả thôi, còn lại thì ai hưởng nhỉ?  Tới nay lại nhớ lời cụ Hồ năm 46, giản dị ấm áp mà vô cùng quan thiết. Tiếc thay nhiều người làm giáo dục ngày nay hoặc đã quên mất hoặc cứ nghĩ đó cũng chỉ là lời nói suông như vô số lời nói suông của họ.

Giáo dục là chuyện trồng người, không thể là chuyện bán mua. Đã bán mua tất nhiên có mua điểm mua bằng mua đủ thứ, miễn có tiền thì mua được tất. Chỉ béo mấy anh nhà giàu, dốt mấy mà có tiền cũng xong hết. Khổ mấy anh nhà nghèo, nhiều đứa học giỏi như trời không tiền đành bỏ học. Học phí  tăng một học trò bỏ mười, kinh doanh như rứa là lời hay lỗ nhỉ?

Nói gì thì nói, dù xã hội hoá kiểu gì mà giáo dục chỉ loay hoay việc mua bán là không có được. Nhiều người cứ khăng khăng chỉ vì học phí thấp, thu không đủ chi, nên chất lượng giáo dục mới thấp. Nói thế là quên mất lời Bác dặn rồi, không lẽ lại nói Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần rất lớn vào… việc tăng học phí!
Hu hu.