Một dấu phẩy không chịu đứng yên

NGUYỄN QUỐC CHÍNH



Rất nhiều người viết cả đời để làm dấu chấm: kết luận, tổng kết, đóng khung. Có những người viết để làm dấu chấm than: gây chú ý, gây sốc, gây tiếng vang. Bọ không chọn hai con đường ấy. Bọ chọn làm dấu phẩy - một dấu phẩy đặt không đúng chỗ, giữa đời và văn.
Nguyễn Quang Lập viết từ một vị trí rất khó. Văn chương của Bọ không sinh ra từ bàn viết kín đáo, mà từ đời sống còn nóng: những chuyện nghe lỏm, những mùi khó chịu, những điều ai cũng thấy nhưng ngại gọi tên. Bọ không đứng hẳn trong văn chương để làm mỹ học, cũng không đứng hẳn ngoài đời để làm phóng viên sự kiện.
Bọ lơ lửng.
Và chính cái lơ lửng ấy khiến chữ của Bọ khó chịu với nhiều người - khó chịu vì nó không cho ai yên tâm.
Văn của Bọ không “hay” theo nghĩa trang trọng. Nếu đo bằng trau chuốt, sang trọng, cân đối, thì văn ấy không đạt chuẩn. Nhưng nếu đo bằng độ trúng, độ gọn, và khả năng làm người đọc ngượng, thì Bọ rất hiếm. Bọ không cố làm câu chữ đẹp; Bọ làm cho thói quen xấu hiện hình. Khi thói quen xấu đã hiện hình, nó xấu sẵn rồi, không cần trang điểm thêm.
Châm biếm của Bọ không nhằm hạ người khác. Nó không dùng để chứng tỏ mình thông minh, càng không để leo lên vị trí đạo đức cao hơn ai. Bọ châm biếm bằng tự trào, chấp nhận mình cũng nằm trong cái ao ấy.
Khi Bọ viết: “Tôi như dấu phẩy đặt sai chỗ / Giữa đời và văn”, đó không phải là than thân, mà là tuyên ngôn vị trí.
Một người không nhận mình là trung tâm, chỉ nhận mình là kẻ làm câu văn bị khựng lại.
Văn chương của Bọ là văn chương làm ngắt nhịp. Xã hội rất sợ những thứ làm ngắt nhịp: câu hỏi không đúng lúc, sự im lặng không theo kịch bản, một dấu phẩy chen vào nơi đáng lẽ phải liền mạch. Chữ của Bọ làm đúng việc đó. Nó không lật bàn, không đập vỡ; chỉ khiến dòng chảy phải dừng một nhịp rất ngắn. Nhưng đôi khi, chỉ cần một nhịp dừng, người ta mới kịp nhận ra mình đang trôi đi đâu.
Vì sao văn của Bọ không bao giờ “thuộc hệ thống”? Vì hệ thống cần câu tròn, nghĩa rõ, vai trò xác định. Trong khi dấu phẩy của Bọ không kết luận, không tuyên thệ, không xin đứng đúng hàng. Bọ không viết để được trao thưởng, cũng không viết để chống đối bằng khẩu hiệu. Bọ viết để làm lộ ra những mảng mà hệ thống không muốn soi kỹ. Thế nên Bọ luôn… lệch. Nhưng lệch không phải lúc nào cũng sai; nhiều khi, lệch chỉ là chưa chịu cúi đầu cho thẳng hàng.

Gã Khờ nói thật một câu: văn chương của Bọ không cứu rỗi ai, cũng không dẫn đường. Nó chỉ làm một việc khiêm tốn hơn nhiều - nhắc người ta rằng câu văn xã hội này chưa xong đâu. Và đôi khi, một dấu phẩy đặt sai chỗ lại là thứ giữ cho câu ấy chưa khép lại trong dối trá.

ĐÒ ƠI!

Tuỳ bút phê bình của Nguyễn Thanh Sơn.



Không có tội lỗi nào mất đi, nó chỉ đổi hình, chảy ngược về phía thời gian, để mỗi lần con người cất tiếng, ký ức lại khẽ dội về, như một lớp sóng ngầm không chịu yên. Nguyễn Quang Lập viết Đò ơi trong chính khoảnh khắc ấy-khi chiến tranh đã trôi mà hòa bình chưa kịp tới, khi lời nói không còn đủ hơi sức để ca ngợi mà tâm hồn cũng chưa đủ độ lùi để sám hối. Ông viết như một người đang học lại cách thở sau chiến tranh-chậm, nặng, sâu-như thể chỉ còn biết lắng nghe tiếng của chính mình trong những gì còn sót lại.

Trong văn xuôi hậu chiến Việt Nam, mỗi người viết đều tìm một cách nói khác cho cùng một im lặng. Nguyễn Minh Châu mở con đường tự vấn của lý trí, Dương Hướng trả lại ký ức cho cộng đồng, Nguyễn Khắc Trường giải phẫu sự mục ruỗng của làng xã, còn Nguyễn Quang Lập thu hết di chứng chiến tranh vào trong thân thể của một con người mang tội lỗi. Ở ông, chiến tranh không phải là ký ức chung, mà là vết thương riêng, và Đò ơi là bản độc thoại của một linh hồn chưa qua sông, nơi mọi tiếng nói đều là tiếng vọng.

Truyện ấy, nhìn bề ngoài, giản dị đến khắc khổ: một người từng là anh hùng, nay sống lặng bên sông, mang theo tội lỗi không ai biết. Nhưng trong cấu trúc, nó được tổ chức như một bản tấu nhiều bè, xoay quanh bốn tầng tiếng gọi- những tầng âm mà lương tâm phát ra trong bóng tối của mình.

Tiếng gọi đầu tiên là tiếng gọi của ký ức ngoài con người. “Một vài con bìm bịp đã cất tiếng gọi bạn, đó là âm thanh duy nhất trường tồn trên bến sông này.” Nguyễn Quang Lập không mở truyện bằng hành động, mà bằng tiếng vọng. Tiếng bìm bịp, tiếng nước, ánh hoàng hôn, tất cả không phải để tả cảnh mà để tái hiện ký ức đang gọi về qua lớp thiên nhiên. Ở đây, chính tự nhiên cũng trở thành ký ức, một ký ức vượt khỏi cá nhân, một kiểu ký ức ngoại thân -nơi trời đất nhớ giùm con người điều họ không dám nhớ. Mỗi tiếng bìm bịp, mỗi gợn sóng, là một cú chạm của quá khứ vào hiện tại, một nhịp ngân cho bản trường ca tội lỗi mà nhân vật đã tự viết lên thân mình.

Tiếng gọi thứ hai là tiếng gọi của thân thể, nơi khát khao bật ra thành âm. Người lái đò say rượu, cất tiếng hát “Ai (ờ) đưa con sáo qua sông…”, “Hò ơi… ví dầu cha mẹ em có đánh chín chục, một trăm roi…”. Những câu hò cũ trôi lên giữa đêm, tưởng chỉ là dân ca, nhưng thực ra là tiếng của xác thịt muốn được sống lại. Chiến tranh đã tập cho con người nín thở, giữ mình trong kỷ luật, không được yêu, không được run, không được yếu. Nhưng ngay cả khi cơ thể không biết cách thở nữa, nó vẫn bật tiếng kêu của bản năng-vừa là khát sống, vừa là khát cơ thể. Trong cơn bão ấy, một phút lầm lỗi xảy ra. Nguyễn Quang Lập không kể lại, ông chỉ để âm thanh làm chứng; vì trong mọi tội lỗi, bao giờ cũng có phần tiếng nói bị chặn lâu ngày của thân thể.

Tiếng gọi thứ ba là lời lương tâm vỡ ra từ xấu hổ. “Ngu.” “Đồ chó.” Hai tiếng ngắn ngủi mà nặng như nhát búa của người đàn bà vang lên qua nhiều năm, dội lại trong lều rách, trong giấc ngủ, trong hơi thở. Không ai còn kết án ông nữa, xã hội đã quên, thời gian đã tha, chỉ có chính ông vẫn tiếp tục nghe. Nguyễn Quang Lập ở đây không viết đạo đức luận; ông viết âm thanh của sám hối. Bởi mọi đạo đức đích thực không nằm ở lời hứa, mà ở việc con người còn biết đỏ mặt trước ký ức của mình. Tiếng chửi ấy chính là nhịp tim của sự lương thiện.

Và cuối cùng, tiếng gọi thứ tư-ảo thanh của chuộc lỗi, tiếng gọi “Đò ơi… đò!” giữa đêm mù sương. Không ai gọi, nhưng ông nghe thấy. Người lái đò vùng dậy, chèo đi trong sương, lao vào bóng tối như người nghe được lệnh của ký ức. Con thuyền ấy không chở ai, chỉ chở một linh hồn đi tìm lại phiên tòa của mình. Tiếng gọi “đò ơi” là âm vang cuối cùng của ý thức, tiếng ngân mà bên kia không ai đáp lại. Nguyễn Quang Lập dừng truyện ở đó-nơi cánh cửa vẫn đóng, nơi không có sự cứu rỗi. Ông hiểu rằng mọi kết thúc đều là một hình thức tha thứ, và tha thứ, đôi khi, lại là cách giết chết chân lý. Vì thế, ông giữ im lặng, để im lặng làm công việc của phán xét.

Từ những tầng âm ấy, Đò ơi mở ra một cấu trúc của thời gian biết tự ngân. Quá khứ không nằm sau lưng, mà vẫn còn đang nhắc liên tục-nói bằng tiếng của nước, của bìm bịp, của thân thể, của những khao khát bị bỏ quên trong chiến tranh. Mỗi âm thanh đều là một cách ký ức tự tìm đường về, và vì thế, quá khứ trong truyện không trôi qua mà lặp lại, như con sông không chịu chảy, chỉ giữ lại bóng người soi mình trong nước. Trong khi đó, hiện tại được đánh dấu bằng một tiếng duy nhất – “Đò ơi…”-tiếng gọi mỗi đêm vẫn vang, nhỏ thôi nhưng bền, như một linh hồn chưa yên. Ở khoảnh khắc ấy, hiện tại không còn là một thời gian đang diễn ra, mà là một thời gian tự nghe lại mình. Còn tương lai-phần đời chưa tới-là một cõi câm lặng: sau bao nhiêu tiếng gọi, thế giới chỉ còn im, như thể mọi khả năng cứu rỗi đều đã được tiêu hết vào tiếng vọng cuối cùng.

Trong dòng chảy ấy, Đò ơi hiện ra như một tấm gương kép, nơi hai bi kịch-bi kịch của thời đại và bi kịch của con người-chồng lên nhau và soi lẫn vào nhau. Bi kịch thời đại là chiến tranh, một cơn cuồng tín tập thể đã biến anh hùng thành tàn dư, biến ký ức chung thành gánh nặng riêng. Nó không chỉ tàn phá thân thể, mà còn tổn thương tâm hồn, khiến mỗi kẻ sống sót đều mang trong mình một phần tro nguội của quá khứ. Bi kịch con người có khi chỉ là khát khao bị kìm nén quá lâu, một phút trượt khỏi bản năng rồi phải sống mãi trong mặc cảm. Nhưng người lái đò mắc kẹt giữa hai dòng nước ấy của quá khứ và tương lai, không biết bờ nào là thật; chiến tranh đã dạy ông cách chết, nhưng không dạy ông cách sống lại. Nguyễn Quang Lập, với sự điềm tĩnh của người đã đi qua mọi tiếng ồn của thời cuộc, chỉ đặt ông vào khung cảnh đó -không kết án, không bênh vực-để ông tự nghe, tự chịu, và dần hóa thạch trong im lặng dằn vặt của chính mình.

Và cuối cùng, khi truyện khép lại, tiếng gọi “đò ơi” vẫn còn đó, nhỏ thôi, nhưng dai dẳng, như tiếng thở của một linh hồn chưa được siêu thoát. Không biết đó là tiếng của người đàn ông, của người đàn bà, của con sông, hay của chính người đọc-chỉ biết rằng nó vẫn tiếp tục ngân, qua mọi bờ, qua cả văn bản, như một lời nhắc âm thầm rằng: điều còn sống lâu nhất trên đời này không phải là ký ức, mà là tiếng gọi của ký ức-thứ không ai dập tắt được, cũng không phải ai cũng đủ can đảm để trả lời.

Nổi chìm ấn truyền quốc Nhà nguyễn

Chiều 30.8.1945 tại Ngọ Môn, dưới mái lầu Ngũ Phụng- Huế, vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho phái đoàn đại diện chính phủ lâm thời của Việt Minh do ông Trần Huy Liệu làm trưởng đoàn. Hồi ký Trần Huy Liệu, vua Bảo Đại và Đổng lý Ngự tiền Văn phòng của vua là ông Phạm Khắc Hoè đều không nói rõ ấn gì, kiếm nào. Nhưng không mấy người quan tâm tới ấn kiếm. Người ta chỉ thích thú được biết vua Bảo Đại hai tay nâng ấn kiếm trao cho cán bộ Việt Minh mới ở rừng về. Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, Phạm Khắc Hoè viết: “Bảo Đại hai tay đưa lên trao cho ông Trưởng đoàn Đại biểu chính phủ quốc ấn bằng vàng nặng gần mười ki lô gam và chiếc quốc kiếm để trong vỏ bằng vàng nạm ngọc.” Tước ấn kiếm của Hoàng đế Bảo Đại, Trần Huy Liệu viết: “Bảo Đại giơ hai tay dâng chiếc kiếm dài nạm ngọc và sau đó là chiếc ấn hình vuông.” Con rồng Việt Nam, vua Bảo Đại không viết trao hai tay hay trao một tay, ngài viết chỏn lọn mỗi câu: “Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín quốc bảo của hoàng triều cho ông Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại.”

Nhà nghiên cứu văn hoá Huế Nguyễn Phước Hải Trung, con trai nhà thơ Hải Bằng, cho là vấn đề không phải vua Bảo Đại trao hai tay hay một tay. Điển lễ xưa nay nhà vua không trực tiếp trao cho ai bất cứ cái gì. Theo ông việc trao ấn kiếm phải thế này mới đúng lễ, ông viết: “Một viên đại thần bê khay (đặt ấn+kiếm trên khay) đến và quỳ xuống, vua Bảo Đại đặt tay lên ấn kiếm, tượng trưng cho đế quyền như một tuyên bố thoái vị từ thời khắc đó. Đại diện Chính phủ Lâm thời bước đến và nhận lấy ấn kiếm, nhận lấy quyền lực vừa được chuyển giao.”

Bảy năm sau, ngày 28.2.1952 một toán lính Pháp tìm thấy ấn kiếm nói trên ở chân móng ngôi nhà bị tàn phá của ông Hà Văn Đô tại làng Nghĩa Đô, Hà Nội. Có lẽ người của Chính phủ Việt Minh trú ở nhà này, tháng 12.1946 trước khi rút khỏi Hà Nội đã dấu vội ấn kiếm ở đây. Ngày 8.3.1952 Pháp tổ chức trao ấn kiếm cho cựu hoàng Bảo Đại tại đại lộ Puginier (phố Điện Biên Phủ ngày nay). Lễ om sòm nhưng Bảo Đại không có mặt, ngài đang ở cùng vợ con ở lâu đài Villa les Pins bờ biển Côte d’Azur thành phố Cannes.

Từ đây, qua báo chí Pháp người ta mới biết chiếc ấn có tên Hoàng Đế Chi Bảo đúc từ Minh Mạng năm thứ tư, 4.2.1823. Quốc kiếm khắc dòng “Khải Định niên chế” (Chế vào thời Khải Định) và “Trọng kim tứ lạng thập thất phân” (kiếm nặng 4 lượng 17 phân).

Kim bảo "Hoàng Đế Chi Bảo" là quả ấn được đúc bằng vàng ròng nguyên chất vào năm Minh Mệnh thứ 4 (1823). Đài chồng 2 núm rồng ngồi xổm, vuông 3 tấc 2 phân, dày 5 phân. Mặt ấn khắc 4 chữ triện 皇帝之寶 (Hoàng Đế Chi Bảo). Mặt trên của ấn, ở hai bên khắc chìm hai dòng chữ 明命肆年貳月初肆日吉時 鑄造 (Minh Mệnh tứ niên nhị nguyệt sơ tứ nhật cát thời chú tạo- đúc vào giờ tốt ngày mồng 4 tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 4) và dòng chữ 拾成黃金重貳百捌拾兩玖錢貳分 (Thập thành hoàng kim trọng nhị bách thập lạng cửu tiền nhị phân- làm bằng vàng mười, nặng 280 lạng 9 chỉ 2 phân (tương đương khoảng 10,7 kg).
Ảnh và chú thích rút từ trang web của Trung tâm lưu trữ quốc gia 1.

Cả Thực lụcHội điển(1) đều chép sự kiện đúc ấn Hoàng Đế Chi Bảo, chỉ rõ việc dùng ấn, cho thấy ấn này có tầm quốc ấn. Nhưng sách Từ Điển Nhà Nguyễn(2) lại cho Hoàng Đế Chi Bảo là ấn ngự dụng, không phải ấn truyền quốc. Sách này đặt câu hỏi: “Tại sao vua Bảo Đại không trao ấn Đại Nam Thọ Thiên Vĩnh Mạng Truyền Quốc Tỉ, ấn tượng trưng vương quyền chánh thống cho chính quyền mới, mà lại trao Hoàng Đế Chi Bảo, là ấn dùng để làm việc thường ngày?”

Lại phải lần dò lịch sử 300 năm, từ thời Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu, mới rõ ngọn ngành.

Tháng 10 năm 1558 Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613) vào trấn thủ Thuận Hóa mang theo ấn Tổng trấn tướng quân(3) vua Lê ban. Trải hơn 133 năm với 5 đời chúa vẫn ấn trấn thủ ấy không đổi. Tới đời Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), năm 1708 Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên, Đàng Trong liền một dải từ Sông Gianh tới Năm Căn thái bình thịnh trị, chúa Minh mới nghĩ tới việc xác định chủ quyền, đúc quốc ấn.

Thực lục chép: “Kỷ Sửu, năm thứ 18 [1709], Mùa đông, tháng 12, ngày Nhâm Dần, đúc quốc bảo. Sai Lại bộ đồng tri là Qua Tuệ Thư coi việc chế tạo (ấn khắc chữ Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo. Năm ấy đúc xong, về sau liệt thánh truyền nhau lấy làm quốc bảo.” Có lẽ danh xưng Chúa Quốc (Quốc Chúa) của Chúa Nguyễn Phúc Chu bắt đầu từ đây. Để khỏi dài dòng, tạm gọi ấn này là Ấn Chúa Quốc.

Ấn Chúa Quốc: Đại Việt Quốc Nguyễn chúa Vĩnh trấn chi bảo.
Mặt ấn.

Bản dập mặt ấn .
Ấn Chúa quốc có mặt hình vuông, núm là tượng lân vờn ngọc, đầu ngẩng lên cao quay về bên trái. Chân trước bên phải chống, chân trước bên trái dẫm lên viên ngọc, hai chân sau chùng xuống. Dọc lưng kỳ lân chạm vân mây lửa. Hai bên lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán. Bên trái khắc “Kê bát thập kim, lục hốt, tứ lạng, tứ tiền, tam phân”. ( Cộng vàng 8 tuổi, nặng 6 thoi, 4 lạng, 4 tiền, 3 phân). Bên phải khắc 11 chữ “Vĩnh Thịnh ngũ niên, thập nhị nguyệt sơ lục nhật tạo” (Dịch nghĩa: chế tạo vào ngày 6 tháng 12 năm Vĩnh Thịnh 5 - tức năm 1709 dưới triều Vua Lê Dụ Tông). Mặt ấn đúc nổi 4 chữ triện, nét chữ vuông uốn nhiều góc, xung quanh là đường viền, đọc theo chiều từ trên xuống dưới, và từ phải qua trái là: Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa Vĩnh trấn chi bảo (“Bảo của chúa Nguyễn nước Đại Việt trấn giữ lâu dài”). Cạnh dưới khắc dòng 9 chữ Hán “Lại bộ Đồng Tri Qua tuệ Thư giám tạo” (“Quan trông nom việc chế tạo là Đồng Tri bộ Lại Qua Tuệ Thư”).

Ảnh và chú thích ảnh rút từ trang web của Bảo Tàng quốc gia.

Năm 1715, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho dựng tại chùa Thiên Mụ tấm bia cao 2m60 rộng 1m25. Chúa đích thân viết bài minh văn “Ngự kiến Thiên Mụ Tự” 1250 chữ, cho khắc vào bia. Hình dấu Ấn Chúa Quốc được khắc đè lên dòng chữ đầu và cuối bia khéo đến nỗi như dấu ấn đóng lên bia đá, chỉ dấu thiêng của ấn truyền quốc.

Bia “Ngự kiến Thiên Mụ Tự” của chúa Nguyễn Phúc Chu- Ảnh Võ Thạnh (VnExpress 13.2.2021)

Mà thiêng thật. Thực Lục cho hay: “Kỷ Sửu, năm thứ 18 [1709], Mùa đông, tháng 12, ngày Nhâm dần đúc Quốc bảo.” Sang năm “Canh Dần, năm thứ 19 [1710], mùa xuân, tháng 3, được mùa to.”

Ấn truyền đến Định vương Nguyễn Phúc Thuần rồi Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh cả thảy năm lần tưởng ấn mất nhưng rồi ấn lại về.

Một lần mùa đông năm 1776, Tây Sơn đuổi Nguyễn Phúc Thuần chạy đến Ba Giòng (thuộc Định Tường). Thực lục chép: “Chúa giao cho Cai đội Lê Chữ giữ một cuốn kim sách 4 tờ (sắc phong chạm trên sách bằng vàng), chiếc ấn vàng truyền quốc và 3 quả ấn đồng quan trọng khác. Đến sông Tra Giang (Trà Giang?) gặp giặc, Chử sợ chạy, quăng cả sách và ấn xuống sông. Đến đây lại về chỗ cũ mò được, đem dâng.”

Một lần, năm 1777 Chúa Nguyễn Phúc Thuần bị Tây Sơn bắt, giết ở Long Xuyên. Quân cơ tan nát rã đám, tưởng ấn cũng mất theo. Không ngờ ấn lại về Nhà Nguyễn. Thực lục chép: “Mậu tuất năm thứ 1 [1778] mùa xuân, tháng giêng, vua (tức Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh) đóng ở Sài Gòn, Đỗ Thanh Nhân cùng các tướng tôn vua lên làm Đại nguyên soái quyền coi việc nước (17 tuổi)…. Thủ ngự đạo Quang Hóa là cai đội Lê Chử đem kim sách và quốc bảo của tiên triều đến dâng. Vua (Nguyễn Vương), khen và thưởng.”

Một lần vào năm 1782, quân Tây Sơn đánh Gia Định, Nguyễn Vương đại bại, phải chạy ra đảo Phú Quốc. Thực lục chép: “Mùa hạ năm Nhâm dần, giặc đánh Sài gòn, [Thế tổ] ra đảo Phú Quốc, điều khiển Ngô Công Quý mang ấn theo sau bị lạc. Đến khi Chu Văn Tiếp phá được giặc, rước vua hồi loan, Công Quý cũng từ Long Hồ đem ấn về hiến.”

Một lần, đâu như năm 1783, Thực lục chép: “Lại đến chiến dịch Ba Lai, quân giặc đuổi gấp, tòng thần (Người đi theo vua) mang ấn lội sông chạy, ấn rơi xuống nước, rồi thì người lội sau vướng chân chạm phải, lại mò lấy được, đem hiến ở hành tại.”

Lần thứ năm vào năm 1784, bại trận và bị Tây Sơn rượt đuổi, Nguyễn Vương phải đem gia quyến chạy ra trốn ở đảo Thổ Châu. Thực lục chép: “Mẹ vua và cung quyến (cung phi và con vua) đều đến lại ở đảo, vua Xiêm sai tướng là Thát Xỉ Đa đem binh thuyền đến đón vua mới vào nước họ. Trong lúc thảng thốt, tình trạng người Xiêm chưa lường được thế nào, vua mật sai tòng thần tên là Hựu đem ấn ấy vượt biển lên bờ giấu kín. Khi vua đến thành Vọng Các ( Bangkok ngày nay), thấy vua Xiêm đãi rất cung kính, không có ý gì khác, vua mới sai người về đảo Thổ Châu để đón từ giá và cung quyến, tên Hữu cũng mang ấn ấy đi theo”.

Quá tam ba bận, với Ấn Chúa Quốc là năm bận “Châu về hợp phố”, chuyện quá lạ lùng.

Tín niệm người xưa cái ấn thiêng lắm. Ấn còn thì quyền còn, mất ấn thì mất quan, mất quyền, thậm chí mất cả tính mạng. Với ấn truyền quốc mất ấn là mất nước. Thời Tam quốc nước Tàu có chuyện Tôn Kiên bắt được ấn truyền quốc mang về Lạc Dương trừ Đổng Trác là một ví dụ. Ấn Chúa Quốc năm lần trở về với nhà Nguyễn, tất là ấn thiêng.

Vậy nên vua Gia Long quyết định chọn Ấn Chúa Quốc làm ấn truyền quốc của Nhà Nguyễn. Vua ra dụ cho người kế nghiệp là Thái tử Đảm (vua Minh Mạng sau này) dặn dò những điều hệ trọng.Thực lục chép: “Ấn báu này, các đời truyền nhau, ngày xưa đã trải qua nhiều phen binh lửa, người chẳng chắc còn, mà ấn này vẫn giữ trọn trước sau, chiếu văn và bổ dụng quan lại đều dùng ấn này, giữ tín trong nước, ai cũng hưởng ứng. Ấn này quan hệ tới quốc gia không nhỏ, thực là ngôi báu trời cho mà vẫn có quỉ thần giúp đỡ, khiến cho ngọc bích của Triệu4 lại trở về để truyền cho con cháu…Từ nay về sau nên lấy ấn này làm vật báu truyền ngôi. Con cháu ta phải đời đời để lại cho nhau, đừng làm mất đi mà truyền đến ức muôn năm dài lâu mãi mãi.”

Từ khi lên ngôi báu đến khi về trời, vua Minh Mạng một mực vâng mệnh vua cha giữ gìn Ấn Chúa Quốc như giữ ngôi báu của mình. Thực lục chép: “Năm Canh Thìn, Minh Mệnh năm thứ 1, tháng 2, ngày tốt, Thánh tổ Nhân hoàng đế (vua Minh Mạng) tự tay phong kín cất đi. Đến năm Đinh Dậu thứ 18 ngày 22 tháng chạp lại mở xem một lần rồi viết chữ son niêm lại để cất như cũ, dùng để truyền cho ức muôn đời. “

Nước Đại Nam dưới triều Minh Mạng thái bình thịnh trị, sang triều Thiệu Trị vẫn thái bình. Kịp tới tháng 6 năm 1846 có người dâng vua ngọc quí, vua Thiệu Trị nảy ra ý làm ấn truyền quốc thay thế ấn truyền quốc của Chúa Quốc. Tới tháng 5.1847 ngọc tỷ truyền quốc làm xong. Thực lục chép: “Đinh Mùi, Thiệu Trị năm thứ 7 [1847], mùa hạ, tháng 5.Tiết Vạn thọ. Quả ấn bằng ngọc khắc xong. Năm Thiệu Trị thứ 6 [1846], gặp tiết Vạn thọ đại khánh, có người trình dâng một viên ngọc quý rất to, sai thợ ngọc giũa khắc thành quả ấn. Năm nay, ngày lễ tế Giao, vua đem việc ấy mật cáo, lấy ngay ngày ấy bắt đầu làm, khắc mấy chữ “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” (Quả ấn truyền quốc của nước Đại Nam chịu mệnh trời ban cho lâu dài).” Cũng để tránh dài dòng, tạm gọi là Ấn Thiệu Trị.

Thực lục dành hầu hết hai quyển 68 LXVIII và 69 LXIX, bản dịch với 3000 từ kể lể dài dòng ngọc quí ra sao, việc đúc ấn ngọc khắc chữ thế nào, lễ trình ấn rất long trọng trước Thế miếu và dụ của vua về sự cần thiết làm Ấn Thiệu Trị.


Ấn ngọc: Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ.

Ấn được làm bằng đá ngọc màu trắng đục hay còn gọi là bạch ngọc, gồm hai phần: núm và mặt ấn. Núm ấn chạm khắc hình rồng, theo thế rồng cuộn với đầu ngẩng cao, chân năm móng, đuôi xoắn. Mặt ấn hình vuông khắc nổi chín chữ "Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ" (Ấn ngọc truyền quốc của nước Đại Nam nhận mệnh lâu dài từ trời). Phía trước đầu rồng có khắc dòng chữ nhỏ "Nam Giao đại lễ để cáo" (tế cáo đại lễ đàn Nam Giao). Hông ấn có hai dòng chữ nhỏ: bên trái là "Đắc thượng cát lễ thành phụng chỉ cung tuyên" (Hoàn thành xong các nghi thức đại lễ phụng chỉ cung kính khắc ấn), bên phải là "Thiệu Trị thất niên tam nguyệt thập ngũ nhật" (Ngày 15 tháng 3 năm Thiệu Trị thứ 7, 1847).
Ảnh và chú thích rút từ trng web của Bảo tàng quốc gia

Chuyện “Có người dâng ngọc quí” là cái cớ. Dân vẫn khai thác đá bạch ngọc ở núi Ngũ Hành Sơn huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam không quá xa, cũng không quá khó. Dụ nhà vua có đoạn: “Tự cổ đế vương dấy lên, tất có phù ấn để tỏ ra chức mệnh. Vì thế các đời cùng truyền có kim bảo, có ngọc tỉ. Kim bảo để làm việc, ra cáo mệnh cho bốn phương, ngọc tỉ thì tôn kính cất đi, để truyền cho muôn đời.” Vua muốn ngụ ý ấn truyền quốc phải là ngọc tỉ, Ấn Chúa Quốc chỉ là ấn kim bảo. Cả cớ lẫn ý đều muốn giấu ý thật này: Vua Thiệu Trị không thích hai chữ Đại Việt và dòng khắc “Vĩnh Thịnh ngũ niên” (Năm Vĩnh Thịnh 5) trên Ấn Chúa Quốc khiến ấn Nhà Nguyễn như ấn Nhà Lê. Vua không thích luôn cái núm lân vờn ngọc mà 138 năm trước Chúa Quốc đã chịu nhún tỏ ý phận tôi. Giờ đây nhà Lê đã mất, hà cớ gì không thay ấn có chữ Đại Nam và núm thế rồng cuộn! Vua Thiệu Trị đã rất đúng khi muốn thay Ấn Chúa Quốc bằng Ấn Thiệu Trị, trong triều ngoài cõi ai cũng đồng tình. Nhưng vua và triều thần đã quên mất Ấn Chúa Quốc là ấn thiêng. Thần dân kẻ quên người không tin ấn thiêng, chẳng ai can dán nhà vua chớ bỏ Ấn Chúa Quốc. Bỏ không phải là vứt bỏ, cả Ấn Chúa QuốcẤn Thiệu Trị vẫn còn nguyên cho đến năm 1945 (Hiện vẫn còn nguyên ở Bảo tàng quốc gia), chỉ huỷ bỏ tính truyền quốc của Ấn Chúa Quốc, thay vào cho Ấn Thiệu Trị. Kể từ tháng 7 năm 1847, Nhà Nguyễn có một ấn truyền quốc là Ấn Thiệu Trị. Ngọc tỉ này được đóng lên các chiếu chỉ gửi cho các nước phiên thuộc và thần dân. Nó được công nhận là “Ngọc tỉ truyền quốc của Đại Nam”.

Tháng 7 thay ấn truyền quốc, tháng 8 vua Thiệu Trị đổ bệnh, tháng 9 băng hà. Vua Tự Đức nối ngôi, nối luôn cả triều đại thảm hoạ. Chiến tranh Pháp – Đại Nam bùng nổ. Từ 1.9.1858 Đà Nẵng thất thủ đến 5.7.1885 Kinh Đô thất thủ, quan quân Nhà Nguyễn đánh đâu thua đấy. Toàn bộ lãnh thổ Đại Nam bị Pháp chiếm đóng và thiết lập chế độ cai trị thực dân, khởi đầu thời kỳ Pháp thuộc kéo dài đến giữa thế kỷ 20. Rõ Ân Thiệu Trị là cái ấn có huông, đau thay!

Trở lại ấn Hoàng Đế Chi Bảo. Từ năm khắc ấn 1823 có ba lần vua Minh Mạng ra dụ về việc dùng ấn. Lần cuối năm 1836 là năm ấn Hoàng Đế Chi Tỉ khắc xong, Thực lục (và cả Hội điển) chép: “Trước đây, phàm gặp việc cho đại xá, hoặc đàm ân, cáo dụ các bậc thân huân, huấn dụ quan lại khi đi tuần thú xem xét địa phương, ban sắc thư cho ngoại quốc, đều đóng ấn Hoàng Đế Chi Bảo; đến đây mới đổi: phàm gặp khi đổi niên hiệu, ban đại xá, đại khánh đàm ân, thì đóng ấn ngọc tỉ, còn các việc từ cáo dụ thân huân trở xuống vẫn đóng ấn kim bảo”. Theo đó thì biết ấn Hoàng Đế Chi Bảo dù rất quan trọng vẫn là ấn ngự dụng, năm 1836 bị đẩy xuống hàng thứ yếu, sau ấn Hoàng Đế Chi Tỉ.

Vậy mà tháng 8 năm 1945 vua Bảo Đại đã bỏ qua ấn truyền quốc của nước Đại Nam là Ấn Thiệu Trị, chọn ấn Hoàng Đế Chi Bảo để “ bàn giao” cho đại diện Chính phủ lâm thời của Việt Minh, khiến tác giả Từ điển Nhà Nguyễn băn khoăn: “Không thể nói rằng vua Bảo Đại không biết, vì vua lên ngôi từ năm 1926.” Tôi nghĩ vua Bảo Đại 19 năm ở ngồi, sao mà không biết. Sở dĩ ngài bất kể ấn truyền quốc, quả quyết không chọn Ấn Thiệu Trị, vì đó là cái ấn có huông.

Nếu đúng vậy thì vua Bảo Đại cũng có lòng với nước Nam ta. May thay.
…………………….
1. Đại Nam Thực lụcKhâm định Đại Nam hội điển sự lệ Do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn.
2.Từ Điển Nhà Nguyễn, tác giả: Võ Hương An, sách dày đúng 1000 trang, khổ 18 x27. Nxb Tổng hợp Tp HCM năm 2020
3.Sử xưa không thấy sách nào chép ấn trấn thủ của Nguyễn Hoàng có tên này, để tiện gọi xin mượn tạm tên ấn trong bài Chiếc ấn vàng truyền quốc của triều Nguyễn của Hoàng Phương (VnExpress 28.1.2017)
4. Tích nước Tàu, Lạn Tương Như dùng mưu lấy ngọc nước Triệu từ nhà Tần đưa về cho nhà Triệu.

Nhà văn “làng ta” kể chuyện “làng ta”

MAI NAM THẮNG



Trong nghĩa trang Liệt sĩ của thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, ngôi mộ đầu tiên tính từ trên xuống là Liệt sĩ Nguyễn Tiến Nhẫn, sinh năm 1929, hi sinh ngày 16-8-1948. Anh là một chiến sĩ điệp báo mưu trí và gan dạ, tham gia Việt Minh từ thủa thiếu niên, bị địch bắt và hành quyết lúc mới 19 tuổi, được các thế hệ nhân dân quê nhà tôn vinh như một người anh hùng.

Nguyễn Tiến Nhẫn là con trai của ông Nguyễn Dư, tục gọi là ông Bộ Dư vì ông là người lo việc lễ lạt, tiệc dùng, đình đám của làng Phan Long, một ngôi làng cổ ở miền hạ bạn phía Bắc sông Gianh, được hình thành cách nay hơn 3 thế kỷ, sau cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn (1627-1775). Là trưởng nam của một gia đình “có chữ”, từ bé Nguyễn Tiến Nhẫn đã được học hành chu đáo, rất thạo tiếng Pháp. Đó là một lợi thế trong hoạt động cách mạng của Nguyễn Tiến Nhẫn, từ khi còn là một chú thiếu niên làm liên lạc cho tổ chức Việt Minh ở Ba Đồn thời kỳ tiền khởi nghĩa; cũng như sau này kháng chiến toàn quốc bùng nổ, làm điệp báo của ngành Công an tỉnh Quảng Bình. Đặc biệt, nhờ thông minh và tài trí, Nguyễn Tiến Nhẫn đã thực hiện thành công kế “Vệ quân nhập địch”, lọt vào hàng ngũ quân thù để khai thác những tin tức quan trọng, giúp quân ta chủ động đối phó với những trận càn lớn ở chiến khu Trung Thuần và làng kháng chiến Cảnh Dương. Khi bị địch bắt, dụ dỗ mua chuộc và tra tấn cực hình, Nguyễn Tiến Nhẫn vẫn không nao núng, kiên cường giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Địch đưa anh về hành quyết tại đình chợ Ba Đồn để khủng bố tinh thần nhân dân, nhưng tấm gương lẫm liệt của anh đã tiếp thêm sức mạnh cho phong trào kháng chiến cứu nước của quê hương…

Hơn 75 năm sau ngày chiến sĩ tình báo Nguyễn Tiến Nhẫn hi sinh, một người con của làng Phan Long là nhà văn Nguyễn Quang Lập đã tái hiện câu chuyện bi tráng trên đây qua tiểu thuyết Làng ta có một anh hùng, do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành quý 1-2025. Gần chục năm sau ngày anh Nhẫn hi sinh, Nguyễn Quang Lập mới ra đời. Trải qua những trận càn của thực dân Pháp, những năm tháng chiến tranh phá hoại của máy bay và tàu chiến Mỹ, những trận lũ lụt thường niên đôi bờ sông Gianh, những lần thay đổi đơn vị hành chính và cơ quan nghiệp vụ… nên những tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Tiến Nhẫn hầu như không còn. Đó là khó khăn lớn nhất đối với một nhà văn viết về đề tài lịch sử. Tuy nhiên, may mắn là từ nhiều năm trước đây, khi một số nhân chứng là bạn bè, đồng đội, chỉ huy của Nguyễn Tiến Nhẫn còn tại thế, Nguyễn Quang Lập đã gặp và tìm hiểu được nhiều tư liệu quý giá về nhân vật của mình. Đó là các ông: Cổ Kim Thành (hoạt động trong phong trào công nhân Ba Đồn trước năm 1945, sau là Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban hành chính Quảng Bình); Đồng Sỹ Nguyên (cán bộ Việt Minh ở Ba Đồn-Quảng Trạch, sau này là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam); Lại Văn Ly (cán bộ chiến khu Trung Thuần, sau này là Phó chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Bình)… và nhiều cán bộ tiền khởi nghĩa ở vùng Ba Đồn-Quảng Trạch trước đây, như các ông, bà: Phan Văn Trinh, Hồ Danh, Hoàng Cần, Nguyễn phi Phổ, Nguyễn Thị Lợi, Nguyễn Hữu Mường v.v… Cùng đó là ký ức của dân làng và những câu chuyện truyền khẩu về Liệt sĩ Nguyễn Tiến Nhẫn; đặc biệt là ký ức của thân phụ nhà văn, là một nhà giáo mẫn tiệp…

Dựa trên những tư liệu khả tín trên đây, bằng tài năng của một nhà văn đã thành danh, Nguyễn Quang Lập đã tái dựng câu chuyện Làng ta có một anh hùng bằng sự pha trộn các yếu tố phi hư cấu với trí tưởng tượng (hư cấu) của nhà văn. Bằng cách ấy, nhà văn đã dẫn dắt người đọc trở về làng Phan Long của thị trấn Ba Đồn cách nay trên dưới tám chục năm, “chứng kiến” quá trình hoạt động và trưởng thành của một người anh hùng nhỏ tuổi ở “làng ta”. Cách “pha trộn” này vừa đảm bảo tính chân thực của các sự kiện và nhân vật lịch sử, tạo cảm giác tin cậy cho bạn đọc; vừa là cách khắc phục những “khoảng trống” và “điểm mờ” của lịch sử do tác động của thời gian và các yếu tố khác. Điều quan trọng hơn là người đọc được tiếp nhận những giá trị lịch sử-văn hóa thông qua một tác phẩm văn học, chứ không phải một tài liệu lịch sử thuần túy.

Cùng với nghệ thuật “pha trộn”- Phi hư cấu lai (Hybrid nonfiction), câu chuyện Làng ta có một anh hùng còn được Nguyễn Quang Lập kể bằng thủ pháp đồng hiện, vốn đã được tác giả sử dụng khá thành công trong nhiều tác phẩm văn học, sân khấu và điện ảnh nổi tiếng của mình. “Đồng hiện” là cùng lúc thể hiện những nhân vật, sự kiện của quá khứ, hiện tại và tương lai; để chuyển tải một thông tin tổng quan, một cái nhìn bao quát; để người tiếp nhận vừa trực quan cụ thể, vừa liên tưởng kết nối, hình dung đầy đủ hơn về những nhân vật và sự kiện được nêu. Tiểu thuyết Làng ta có một anh hùng có 2 nhân vật chính là Nguyễn Tiến Nhẫn và Mai Thị Lê. Trong đó, Mai Thị Lê vừa là nhân chứng lịch sử (cô bạn nhỏ thời thơ ấu và người yêu tuổi thiếu niên của Nguyễn Tiến Nhẫn), vừa là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất (xưng “em”). Trong mỗi “chương” (mục) của tác phẩm, mở đầu là cuộc trò chuyện của tác giả Nguyễn Quang Lập với nhân chứng lịch sử Mai Thị Lê, 91 tuổi, ở thời hiện tại, khi nhà văn viết tập truyện này. Tiếp đó là phần độc thoại-tâm tình của cô bé Mai Thị Lê cách nay trên dưới tám chục năm, với nhân vật Nguyễn Tiến Nhẫn; thực chất đó là câu chuyện kể về người anh hùng theo trình tự thời gian đã thuộc về quá khứ. Theo đó, phần trò chuyện giữa cụ bà Mai Thị Lê với nhà văn Nguyễn Quang Lập có tác dụng như những lời “phi lộ” hay những dòng “lạc khoản” để người đọc hình dung rõ hơn, tiếp nhận đầy đủ hơn những thông tin của cô bé Mai Thị Lê trong phần độc thoại-tâm tình tiếp theo. Ngoài hiệu quả nghệ thuật trên đây, phương pháp đồng hiện này còn giúp cho câu chuyện sinh động, linh hoạt hơn; đặc biệt tạo cảm giác tin cậy hơn khi nhiều chi tiết/sự kiện của quá khứ có sự chứng kiến hoặc can dự của những nhân vật nổi tiếng trong làng, như: Người rải truyền đơn năm 1933 ở chợ phiên Ba Đồn là ông Hoàng Lai, 1 trong 3 đảng viên của Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Phan Long-Ba Đồn; chú cu Chích thường đến gặp Nguyễn Tiến Nhẫn vào ban đêm, sau này là Đại tá Công an Nguyễn Văn Chích; chú Trợ Tỷ phụ trách Hướng Đạo sinh ở Ba Đồn, sau này là nhà giáo Nguyễn Văn Tỷ, Phó Hiệu trưởng-Bí thư Đảng ủy Đại học Sư phạm 1 Hà Nội; ông Quản Đại là cán bộ Việt Minh cài vào hàng ngũ địch, làm đến đồn trưởng khố xanh, sau này là Trung tá Quân đội Nguyễn Thái Đại, nhạc phụ của Giáo sư địa chất Nguyễn Quang Mỹ, anh ruột của nhà văn Nguyễn Quang Lập v.v…

Làng ta có một anh hùng là tiểu thuyết lịch sử hiện đại. Tác phẩm tái hiện khá sinh động phong trào đấu tranh cách mạng ở một làng quê cụ thể, trong phong trào cách mạng chung của cả nước, giai đoạn tiền khởi nghĩa tháng 8-1945 và những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thông qua việc khắc họa hình tượng một thiếu niên yêu nước, một chiến sĩ điệp báo trẻ tuổi. Đồng thời, tác phẩm cũng đầy ắp những kiến thức lịch sử, văn hóa, địa lý… và điều kiện kinh tế-xã hội của một vùng đất từng là trung tâm thương mại nổi tiếng lâu đời ở miền Trung. Có lẽ, ký ức tuổi thơ và tình yêu quê hương là động lực chính thôi thúc tác giả viết tiểu thuyết này và đây cũng là yếu tố chính làm nên sự thành công của tác phẩm. Những ân tình xóm Cây Bàng, xóm Cau, xóm Gát, phố Chợ…; Những địa danh thân thương cầu Phôốc, cầu Kịa, sông Gianh, núi Chóp Chài…; Những mùa rạm bè, những phiên chợ bò… cùng những đặc sản ẩm thực như: bánh tráng, bánh canh… khiến những độc giả chưa từng biết đến Ba Đồn, cũng thổn thức chia sẻ. Và đặc biệt, làng Phan Long-thị trấn Ba Đồn của tác giả còn là một cái nôi của phong trào cách mạng tỉnh Quảng Bình. Nhà văn không giấu nổi niềm tự hào khi kể: “Hòa bình lập lại năm 1954 mới biết, hóa ra chín phần mười dân làng Phan Long theo Việt Minh. Hóa ra quán Phở Tới, Nhậu Đê của ông Bếp Tới là nơi in truyền đơn, may cờ đỏ sao vàng. Hóa ra, dưới gốc cây bàng trước nhà ông Vĩnh Tường là kho vũ khí của Việt Minh. Chú Hồ Nhỏ, con tri phủ Hồ Ngân chuyên săn lùng Việt Minh, hóa ra là Việt Minh gộc. Con cháu tri phủ Hồ Ngân sau này đều là những trí thức cách mạng, giữ nhiều cương vị cao của chế độ ta. Quản Thượng bị giết, Quản Đại về thay đồn trưởng khố xanh để điều tra thủ phạm, hóa ra cũng người của Việt Minh nốt (trang 98)…

Nhà văn Nguyễn Quang Lập sinh năm 1956, Kỹ sư vô tuyến điện, Thượng úy cựu chiến binh, thuộc thế hệ đầu tiên của dòng Văn học Đổi mới. Hầu hết các tập truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng về đề tài chiến tranh của ông, như: Tiếng gọi nơi mặt trời lặn; Tình cát; Chuyện nhà quê; Cây Sến lửa… đều viết về miền Trung, Quảng Bình và Ba Đồn, nơi ông sinh ra và lớn lên. Và lần này là tiểu thuyết lịch sử Làng ta có một anh hùng

NHẬU NHẸ BA MIỀN



Dân viết lách thường hay tụ bạ nhậu nhẹt, phần vì ham vui, rời khỏi bàn làm việc, sau khi một mình chống chọi với “pháp trường trắng”, đa phần đều vì muốn tìm kiếm bạn bè giải stress; phần vì nhu cầu tìm kiếm thông tin, nhặt nhạnh tư liệu sống quanh bàn nhậu. Đôi khi nghe lỏm được nhiều ý tưởng cực hay, nhiều đề tài hấp dẫn bạn bè nói ra. Bây giờ nhậu nhẹt ba miến na ná nhau, ngày xưa khác nhau lắm. Sài Gòn sôi động, đời sống chảy xiết, dân nhậu Sài Gòn, là nói cánh viết lách, sáng dậy sớm hẹn nhau đi ăn sáng cà phê nói chuyện công việc, rồi cắm cổ làm việc cho đến chiều tối xong việc mới nhậu nhét tới số, có khi kéo dài tới khuya.

Nhậu nhẹt ra nhậu nhẹt, mọi người quẳng hết việc, hát hò chọc quê chơi vui, đúng là dân nhâu chuyên nghiệp. Anh nào gọi đi nhậu anh đó trả tiền, luật bất thành văn từ xưa đến nay. Không như dân Bắc cứ gọi nhau đi, nhậu xong ai có tiền thi trả, thành thử đến giờ thanh toán cứ nhìn nhau nói cười nhàn nhạt, nhiều anh cứ đúng giờ đó thì nhìn đồng hồ đứng dậy, nói mình có việc phải về sớm, bí quá thì nhảy đại vào toilet, hi hi.

Sài Gòn mỗi trận nhậu thường chia thành ba hiệp, hiệp một bia hơi, uống mồi chừng dăm bẩy vại là kéo nhau đi karaoke, hội hát bằng mồm hội hát bằng tay. Cuối cùng thì nháy nhau đi massage, kẻ massage sấp người massage ngửa. Sau đó thì biệt tăm, có khi nửa năm chẳng gặp nhau.

Sài Gòn lắm việc, bạn bè từ xa đến, sơ thì mời nhau cà phê ăn sáng, thân thì nhậu một trận tơi bời rồi lặn mất tiêu, ít ai mờt bạn về nhà. Nhiều người mới vào Sài Gòn hay bị sốc. Đã quen thói ở miền Trung miền Bắc, hễ có bạn tới là đánh đu với bạn suốt ngày, nay thấy bạn lặn mất tiêu suốt kỳ mình ở chơi, đến ngày về gọi điện chào cũng chỉ nói đi mạnh giỏi nghen, cũng chẳng thầy tiễn tiếc gì thì ngạc nhiên lắm, đôi khi tủi thân, bức mình nữa.

Ngược lại gần Sài Gòn lần đầu ra Bắc cũng hay bị sốc. Sáng mấy anh quen gọi đi nhậu, chiều cũng mấy anh đó đón đi, ngày mai ngày kia vẫn mấy anh đó đến ngày ra đi cũng mấy anh đó. Nhiều người cứ băn khoan không hiểu sao người ta mất quá nhiều thời giờ vì mình, đâu biết thời đó cánh viết lách xứ Bắc chỉ có một món tiêu xài thoải mái, đó là thời gian.

Dân Hà Nội cà phê không ham, công việc cũng chẳng nhiều, ngủ dậy muộn, ăn sáng xong làm mấy chén chè mới túc tắc đến công sở. Vật vờ vào ra cho đến trưa, giờ cơm trưa cũng là giờ đàn đúm, đến chiều tối lo về với vợ. Phàm đã chui vào chuồng lập tức nội bất xuất ngoại bất nhập, cố gắng làm anh chồng ngoan cho đến sáng hôm sau. Nhậu nhẹt nhiều khi như hợp, bàn đủ chuyện trên trời dưới đất, cãi nhau ỏm tỏi.

Thi thoảng mới có cuộc nhậu chia làm ba hiệp, hiệp một nhậu say chí tử, hiệp hai mới kéo nhau đi hát hay massage. Nhưng quân số hiếp hai thường mất đi một nửa, đủ thứ lí do để bỏ cuộc, người sợ vợ, kẻ sợ quan trên nhìn xuống người ta trông vào.

Dân nhậu Hà Nội quan tâm đến cái view, thoáng đãng yên tĩnh càng tốt vì họ cần nói chuyện, cuộc nhậu nào cũng có nêu vấn đề. Cánh viết lách Hà Nội ngồi với nhau mỗi ông là một ông trời con, không việc gì không phán được, ông nào ông ấy phát ngôn tầm cỡ ủy viên Trung ương, rất ghê. Hết nhậu về ông sở lại bóp miệng vật vờ vào ra vô cùng khiêm tốn, hi hi.

Dân viết lách miền Trung thường nhậu nhẹt bất tử, bất kể giờ nào miễn có tiền. Việc vàn chẳng có ba lăm, thời gian không thành vấn đề, chỉ cần cái cớ là kéo nhau vào quán. Bạn bè ở Nam ra, ở Bắc vào là cái cớ tuyệt vời đề khai báo với vợ, có thể đi thâu đêm suốt sáng.

Miền Trung vẫn giữ được thói quen bạn bè từ xa đến không thể không mời vé nhà, làm mâm cơm đãi bạn, nhậu nhẹt ở nhà chán chê rồi mới đi ra quán. Khách khứa nhiều người chạy sô ăn cơm nhà bạn cũng đủ chết xác nhưng không thể từ chối, bữa cơm nhà như là chứng chỉ của tình thân, sự quý trọng, thiếu nó lắm người rất áy náy.

Không có khác khứa thì tu bạ quán cà phê, ngồi chán thế nào cùng có người kéo đi quán, nhậu hết cuộc này sang cuộc khác, tối vừa về nhà có người gọi lại vọt, các bà vợ chỉ nguýt lườm ít ai dám nói. Ngày nào cũng nhậu, ít ai có khả năng bao sân, thành ra có kiểu nhậu nối dài. Anh đến sau bảo kể từ đây là phần của tôi nhé, mỗi anh chịu thanh toán một khúc, cứ thế nối dài ra mãi.

Về sau cánh nhà báo có kiểu nhậu bắt Fulro, gọi người ra trả tiền hộ. Nhậu giữa chừng thì gọi ai đó, thường là các ông chủ doanh nghiệp, các quan chức trong tỉnh, mời họ ra nhậu chơi. Mấy ông này lập tức hiểu ý, vọt ra làm đôi ba chén, góp vui đôi ba câu nói giành lấy bill thanh toán cai rẹt. Không phải ai cũng thích kiểu nhậu bắt Fulro, vì nó lấy đến đao đức nghê nghiệp, nhưng tỉnh nào cũng có một anh bắt Fulro cực tài, rất đáng sợ.

Ngày nay văn hoá nhậu ba miền đã có nhiều điểm tương đồng. Dân nhậu Bắc, Trung đã chuyên nghiệp tựa dân nhậu Nam. Cánh viết lách Hà Nội không chỉ nhậu vấn đề, nếu đờn ca cùng rất phê. Cánh viết lách Sài Gòn không chỉ nhậu đàn ca mà nhậu vấn đề cũng rất nổ. Cánh viết lách miền Trung đã có nhiều việc làm hơn, anh nào cũng công tác với vài ba tờ báo ở Hà Nội, Sài Gòn, nhậu nhẹt đả có giờ, không còn triền miên như ngày xưa nữa. Cả ba miền bây giờ chỉ nhậu hết hiệp một là về, ít ai sa đà sang hiệp hai hiệp ba tốn tiền mất thời giờ phí sức.

Phục vụ nhà hàng ba miến củng có niêu đổi khác. Miền Bắc, miền Trung học miền Nam đã thực bụng coi khách hàng là thượng đế. Nhân viên nhà hàng Hà Nội biết mềm mỏng lịch lãm nhiệt tình, đã mất đi khá nhiều các bộ mặt lạnh lùng, khinh khỉnh di chứng thời bao cấp. Nhân viên nhà hàng miền Trung cũng tiến bộ rất nhanh, không còn nhiều nhà hàng cho nhân viên ra tranh giành nhau chặn bắt khách hàng, bắt được rồi gọi gì cũng ra, dạ riết mà chẳng thấy đưa món ra, lại ra. Hỏi vì sao chưa đưa món ra, lại dạ. Nói tôi hỏi vì sao chưa đưa món ra dạ gạ cái gì, vẫn cúi đầu lễ phép dạ dạ gì, tức phát điên. Việc ấy bây giờ tuồng như đã chấm dứt. Có lẽ văn hoá dịch vụ bao cấp sắp chết thật rơi chăng? Mừng.

KCVR 25: VÀ HẾT



Bốn chục năm sau tôi gặp lại con Lu, không phải ở trong các giấc chiêm bao mà ngay trong nhà cô giáo dạy xác suất của tôi. Tôi vốn ghét những ngẫu nhiên trớ trêu nhưng không tránh được, trời bắt phải thế chẳng biết làm thế nào.

Con Lu chết ngày 1 tháng 6 năm 1960. Tôi không bịa tạc gán ghép ngày quốc tế thiếu nhi với ngày chết một con chó làm gì, chỉ vì khi chôn xong cái đầu con Lu, bà Phó văn phòng Ủy ban tỉnh đi tìm tôi, cho tôi gói bánh kẹo nhân ngày quốc tế thiếu nhi. Phần của con Lu nữa đó. Bà nói thêm. Bà không biết con Lu đã chết, tôi cũng không buồn nói cho bà hay. Ba chôn cái đầu con Lu ở góc sau khu Ủy ban tỉnh, ông làm nấm mộ nhỏ như cái mũ cối, cắm lên đó một thẻ nhang. Tôi ôm gói kẹo tới nấm mộ, bóc gói kẹo ra. Ăn đi mày, kẹo mồng 1 tháng 6 đó. Tôi nói và nghe như con Lu nói ừ. Tôi ngồi bệt ăn kẹo, tưởng tượng cùng ăn kẹo với con Lu. Tôi nhai kẹo, nhai luôn nước mắt khóc thương nó.

Ngày nào tôi cũng ra mộ con Lu cắm một thẻ thang, đặt một cái kẹo. Sau hết kẹo chỉ cắm thẻ nhang thôi. Tháng sau thi thoảng tôi mới ra thăm mộ, chỉ thăm mộ thôi không thắp hương. Năm sau tôi không hề lai vãng tới mộ đó nữa, thêm vài năm nữa tôi vẫn nhớ con Lu nhưng mộ nó thì quên mất. Bốn chục năm sau, khi con gái út tôi bằng tuổi tôi lúc con Lu chết tôi chẳng hề nhớ gì con Lu nữa. Tôi đã nuôi bảy con chó, cả bảy con đều chết với các lý do khác nhau, con nào chết xong tôi cũng thương xót vài ngày nhiều lắm là một tuần, rồi cũng quên, giá có gặp lại tôi cũng chẳng nhớ. Tưởng đến lượt con Lu chắc cũng thế, ngờ đâu tôi và con Lu gặp lại nhau.

Hà Nội một ngày đẹp giời năm 2000 tại hồ Ha Le tôi gặp cô giáo xác suất của tôi.

Lâu nay vẫn biết cô vẫn dạy toán xác suất ở trường cũ, vẫn ở một mình ở khu chung cư cũ nhưng tôi không muốn gặp. Riêng chuyện đàn bà tôi mang gen bội bạc của ba. Kể từ buổi tối ngày 30 tháng 4 năm 1975 tới nay chẵn hai lăm năm tôi cố tình không gặp cô nữa. Chuyện tôi với cô tối hôm đó nó là cái gì chứ không phải là tình, cả cô và tôi chẳng được gì cũng chẳng mất gì. Thế là xong, vướng víu làm gì mất thời giờ. Thỉnh thoảng vẫn nghe bạn bè cùng lớp nói, cô vẫn nhớ mày lắm đấy! Tôi vẫn tắc lưỡi cho qua. Giờ gặp nhau đây cô luống cuống như gái tơ gặp bồ cũ, mặt mày đỏ lựng, vừa nói xong Quang đi đâu đấy lại nói Quang đi đấy... lúng ta lúng túng.

Cô nhất định kéo tôi về nhà cho bằng được. Nhà cô vẫn là căn hộ cũ được cơi nới ra hơn bốn chục m2, một căn hộ khép kín, mình cô ở quá rộng rãi. Cô đãi tôi món thịt heo quay, nồi miến lòng gà và chai rượu cam, ý chừng nhắc lại kỉ niệm tối 30 tháng 4 hai lăm năm về trước.

Tôi không hề có một cảm xúc gì, khi cô cúi xuống nhấc cái lồng bàn tôi không còn thấy gáy Ái Vân đâu nữa, trước mắt tôi là cái gáy khô gầy nhợt nhạt của người đàn bà ở tuổi mãn kinh. Đợi mãi không thấy giây phút hai lăm năm trước lặp lại cô ngồi xuống bẽ bàng, nụ cười gượng gạo. Có vẻ như cô đợi tôi hỏi vì sao cô không lấy chồng để cô làm tôi phải cảm động. Tôi không hỏi, tôi ghét hỏi đàn bà những chuyện riêng tư. Cô có vẻ buồn.

Tôi vào mâm, gắng nốc vài ly rượu cam, nhấm nháp món rượu sang trọng ngày xưa giờ như một cực hình, nó ngọt đến phát kinh. Tôi làm như rượu ngon lắm, cố moi ra vài câu hài hước mua vui cho cuộc rượu nhạt nhẽo này. Quang đẹp trai thật đấy. Cô cười bẽn lẽn nói đi nói lại. Chẳng ngu gì tôi không hiểu ý cô, tôi cứ lờ đi coi như không nghe thấy. Một con chó từ đâu chạy vào phòng khách, lăng xăng quanh mâm, nó có vẻ mừng rỡ khi thấy tôi. Mi Na, đi ra ngoài. Mẹ có khách! Cô quát đuổi con chó hai, ba lần.

Con chó không đi, nó chui xuống gầm bàn ăn ngẩng mặt nhìn tôi như nói, ê...nhớ không? Quên rồi à! Tôi thấy ngờ ngợ không biết gặp con chó này ở đâu. Tôi cúi xuống gầm bàn xem kĩ nó một lần nữa, thấy có ba xoáy trên sống lưng của nó. A, nó là giống chó Phú Quốc. Như con Lu ngày xưa, lông nâu mượt mắt nâu tươi sáng và có ba vòng xoáy thật đẹp trên sống lưng. Chắc cô giáo nhờ người ra tận Phú Quốc mang về.

Con chó ghếch mõm lên với tôi, nhớ chưa? Tôi nhìn nó cười cười, nhớ gì? Mày là Mi Na, tao không quen con chó nào tên là Mi Na cả. Nó nhìn tôi buồn buồn, kiếp này tao là Mi Na, kiếp trước tao là Lu... Tôi lặng đi. Thế ra con Lu đã tái sinh. Tôi không biết gì về thuyết luân hồi của nhà Phật, đọc sách Phật thấy những “nghiệp lực”, “thọ báo,” “cảnh giới”... nghe ù tai chẳng muốn tìm hiểu nữa. Tôi tưởng bánh xe luân hồi của nhà Phật to lắm, ít nhất vài trăm năm mới được tái sinh, ngờ đâu con Lu mới chết vài chục năm đã được về hạ giới, lại đầu thai đúng kiếp chó.

Tôi hỏi nó, mày là con Lu thật à? Con Lu ra mặt giận không đáp, có lẽ nó thất vọng về tôi lắm. Mới vài chục năm đã quên nhau, nó thất vọng là phải. Con Lu cứ loay hoay dưới gầm bàn như đang nghĩ cách chứng minh cho tôi nó đúng là con Lu. Rồi nó chui ra khỏi gầm bàn nhảy dựng lên về phía bàn thờ sủa mấy tiếng. Cô Giáo quát con Lu, đừng hỗn Mi Na! Tôi nhìn lên bàn thờ, ảnh truyền thần một người đàn ông chừng năm chục tuổi. Bố mình đấy. Cô giáo nói. Tôi vâng và ngước lên nhìn ngưỡng mộ, tự thấy tởm về thói đạo đức giả của tôi.

Cô kể. Hồi mới đem con Mi Na về, thấy ảnh bố mình con Mi Na nhảy lên sủa liên tục, sủa suốt ngày đêm, rất lạ. Cô cười nói hồn nhiên. Hình như kiếp trước nó với bố mình có mắc mớ chi nhau. Ở lâu ngày đâm quen con Mi Na không sủa nữa, không hiểu sao giờ nó lại sủa. Con Lu lại sủa lên mấy tiếng. Thôi,... Mi Na! Cô giáo lại quát đuổi nó đi.

Tôi để ý trên bàn thờ chỉ có ảnh bố cô giáo, tôi đoán chắc mẹ cô còn sống, ông bà già ngày nay thọ trên tám mươi tuổi không phải là ít. Mẹ cô giờ ở đâu? Tôi hỏi. Chết rồi chứ ở đâu. Cô đáp một câu lạnh tanh. Tôi lạ lùng nhìn cô, ít ai nói về mẹ mình một câu như thế. Thực ra mình không có mẹ. Chừng như đoán được tôi nghĩ gì cô nói thêm một câu nữa vẫn giọng lạnh tanh. Cô cười buồn không nói gì thêm nữa.

Nhạy cảm của nhà văn cho tôi chút thông minh đột xuất. Bố cô hy sinh ở chiến trường à? Tôi hỏi. Cô lắc đầu vẻ khó chịu, lát sau ngẩng lên bàn thờ, cái nhìn thương yêu kính cẩn. Ảnh này có trước năm 1975 đấy. Cô nói. Ngày 30 tháng 4 năm đó Quang tới đây đã có ảnh bố mình trên bàn thờ rồi. Thì ra thế, lúc đó còn loay hoay với cái háng trinh nữ của cô, tôi chẳng thấy gì khác. Cô rót ly rượu, cầm ly rượu tần ngần nhìn lên bàn thờ, Cô hắt cả ly rượu vào miệng, nuốt đánh ực cứ như uống thuốc đắng. Bố mình không chết trận. Bần thần giây lát cô nói. Bố chết ngay sân nhà, rắn lục cắn chết. Thủ trưởng! Tôi suýt kêu lên, ly rượu trong tay rơi xuống nền nhà vỡ toang.

Con Lu nhảy chồm lên sủa mấy tiếng, nó mừng vì biết tôi đã nhận ra nó. A con Lu! Đúng mày là con Lu! Tôi ôm lấy nó. Con Lu nhanh chóng chuồi ra khỏi tay tôi, nó không muốn cô giáo biết quan hệ thân thiết giữa tôi và nó. Tôi vỗ lưng nó, Lu ơi tao nhận ra mày rồi! Con Lu lùi ra không cho tôi vuốt ve trước mặt cô giáo, đôi mắt nâu của nó ướt nhòe.

*

Cuộc rượu nhạt nhẽo trở nên sinh động hơn, tôi uống rượu tì tì nghe cô giáo kể chuyện say sưa. Cô trốn khỏi nhà lúc cô bảy tuổi sau cái chết của bố cô. Từng cùng bố đi tàu hỏa ra Hà Nội nhiều lần cô cứ thế lên tàu chẳng cần hỏi ai, xuống ga Hàng Cỏ đi thẳng một mạch tới nhà chú ruột của cô không cần phải hỏi ai. Chú cô còn làm to hơn bố cô nữa, nuôi cô ăn học cho tới lúc cô trở thành cô giáo. Trong suốt câu chuyện cô không nhắc tới mẹ một lần nào, tôi cũng không nói cho cô hay tôi biết Thủ trưởng là ai là thế nào. Con Lu dưới gầm bàn gại gại chân tôi ra hiệu, cứ để cho cô kể. Tôi nghe lời con Lu.
Cô giáo tôi kể về bố cô với niềm tự hào không thể tả, với cô không ai trên đời được như bố cô. Cô không bịa đặt thêm thắt một lời nào những gì cô nghe chú cô kể về bố cô, có phần còn lược bớt đi ở những chỗ cô nghĩ nếu kể ra sẽ bị người nghe cho là thiếu khiêm tốn. Con Lu nằm dưới gầm bàn xác nhận câu chuyện của cô. Nó gại gại vào chân tôi, bảo đúng. Nó lưỡi liếm chân tôi, bảo sai. Tôi tin con Lu. Ở thế giới bên kia chắc nó đã gặp Thủ trường và các chiến hữu của ngài, duyên nghiệp cho nó tái sinh về sống với cô giáo mấy năm rồi, chuyện gì nó không biết.

Cô kể. Bố cô hồi nhỏ học giỏi lắm, giật bằng tú tài từ năm mười bảy tuổi ( con Lu liếm chân tôi), cũng năm đó bố cô tham gia cách mạng, mười chín tuổi vào đảng, hai mươi tuổi làm bí thư chi bộ, hai hai tuổi tham gia giành chính quyền ở Thị xã Ô Lệ, hai ba tuổi gia nhập bộ đội Việt Minh với chức trung đội trưởng, hai lăm tuổi về lại dân sự làm phó bí thư đảng ủy chiến khu Đá Mài, ba mươi tuổi là thủ trưởng chiến khu Đá Mài hơn ba ngàn cán bộ Việt mình, ba lăm tuổi là thủ trưởng quân khu... (con Lu gại gại chân tôi), hơn ba chục huân huy chương các loại ( con Lu gại gại chân tôi), nếu bố cô không bị rắn lục cắn chết ông có thể được phong anh hùng, ra Hà Nội làm to như chú cô, thật đấy.( Con Lu liếm chân tôi sau bỏ liếm gại gại chân tôi, nó tin cô nói thật). Tôi gật đầu chia sẻ, ai chết non đều được người thân tiếc nuối tưởng tượng ra đủ thứ “nếu như”, chẳng riêng gì cô giáo.

Cô lục tủ đưa ra cuốn nhật kí đã ố vàng cũ nát. Tôi nhìn thấy trên bìa một cuốn nhật kí có tên Lệ Hiên liền cầm lấy. A, nhật kí của chị Hiên, cái này chưa nghe ba nhắc tới. Lật dở vài mươi trang tôi bất ngờ thấy bài hát của chị Hiên. Ai đó chép nhạc cho chị thật đẹp.


Cô giáo không để ý đến cuốn nhật kí của chị Hiên, cô cứ dúi vào tay tôi cuốn nhật kí của Thủ trưởng. Cô háo hức kể. Cuốn nhật kí bố mình để lại toàn kể những gì ông đã cứu người, cứu sống trong chiến trường có, cứu sống trong chỉnh huấn chỉnh quân có, cứu sống trong cải cách ruộng đất có, mấy trăm người lận.... Cô ngước lên nhìn ảnh bố cô, ánh mắt dào dạt yêu thương, thủ thỉ tâm sự. Bố mình là người trung thực, sống chân thành với mọi người, ai cũng thương ( con Lu liếm chân tôi), ông sống giản dị lắm, cái câu cần kiệm liêm chính chí công vô tư đúng với bố mình y chóc ( con Lu liếm chân tôi). Cô cầm ly rượu xoay xoay vẻ trầm ngâm. Bố mình sống nhân từ lắm, đức độ lắm, như Phật ấy. ( con Lu liếm chân tôi, nó khịt khịt mũi chừng như muốn nói gì đó) Bố mình có chín tiếng tuyệt vời Đồng chí rất tốt, tôi tin tưởng đồng chí nổi tiếng khắp chiến khu, nhờ thế mà ai ai cũng tin yêu, ông mất đi cả chiến khu ai cũng khóc, nhiều người nằm khóc ướt cả võng dù (con Lu liếm chân tôi, nó nhe răng gằn mấy tiếng).

Con Lu liếm đi liếm lại ướt cả chân tôi. Tôi vẫn cố tạo ra vẻ háo hức nghe cô kể. Cô cứ kể tôi hết vâng lại à thế à mỏi cả miệng. Thế gian có nhiều kẻ khôn ngoan chuẩn bị hậu vận cho mình, khôn nhất là Tự Đức, khôn nhì là Chế Lan Viên, không ai khôn bằng Thủ trưởng, ngài thật cao thủ. Ngài viết nhật kí chuẩn bị hậu vận cho ngài thật chu đáo, không lừa được người đời cũng vuốt ve được con cháu, mấy ai khôn khéo được như ngài.

Con Lu không chịu nổi, nó nhảy ra khỏi gầm bàn sủa vang vang. Tôi hiểu con Lu đang chửi cô và chửi tôi. Nó chửi cô bịa đặt trắng trợn bịa đặt tởm lợm bịa đặt trâng tráo. Nó chửi tôi ngu, người ta nói vậy mà cũng tin. Tôi nhìn nó nói, tao tin khi nào? Nó chĩa mõm về tôi chửi, nếu không tin thì mày là thằng đạo đức giả.

Tôi không thể giải thích cho con Lu hiểu, cô giáo không có lỗi, toàn bộ thông tin cô có được chỉ có thế, đức tin của cô chỉ có thế và chỉ có thế mà thôi. Với cô, đương nhiên bố cô là một ông thánh, chỉ có đúc tượng thờ không phải bàn gì hết. May thay cô giáo chỉ biết sự thật về mẹ cô, nếu biết sự thật về bố cô nữa chắc cô không sống nổi, nếu sống được cô sẽ không có cả bố lẫn mẹ. Nếu tôi nói ra những gì tôi biết về Thủ trưởng sẽ rất lố bịch và tàn độc với cô giáo của tôi. Con Lu không chịu, nó đòi tôi phải lên tiếng. Nó chồm lên giận dữ sủa vào mặt tôi.

Cô giáo tôi không hiểu gì cả, thấy con Lu như muốn lao lên xé xác tôi, cô co rúm chết khếp. Mi Na, không được hỗn! Cô kêu lên. Con Lu quay ngoặt lại, nó chồm lên mặt cô kêu đánh ẳng một tiếng, tiếng kêu đau hộc máu. Cô hoảng hốt ôm chầm lấy tôi. Không biết nói gì tôi chỉ ngồi im để cô ôm chặt. Tôi không thể nói cho cô biết lúc cô bảy tuổi con Lu bốn tuổi, bốn tuổi chó bằng bốn chục tuổi người, tuổi ấy mới hiểu hết sự đời. Tôi muốn hét lên, con Lu đúng đấy cô ơi. Tôi đã không dám, cứ để mặc cho cô run rẩy ôm lấy, mỗi lúc mỗi xiết chặt lấy tôi. Con Lu tưởng tôi bênh cô, tôi đã quên hết những gì bốn mươi năm về trước, nó tru lên một tiêng dài tuyệt vọng và vọt ra khỏi nhà cô.

Từ đó con Lu không bao giờ về nhà cô, cũng không bao giờ tìm gặp tôi nữa.

*

Tối hôm đó tôi ngủ dưới một trời mưa giông. Rượu nhấn tôi chìm sâu vào giấc ngủ mê mệt. Tôi nghe tiếng sủa của con Lu vang vang. Tôi choàng tỉnh, mừng quá tưởng nó đã trở về. Thì ra đó là sấm. Tiếng sấm đầy trời phẫn nộ và chua xót. Tôi ngồi im trong bóng tối ngóng về quê nhà. Ngày con Lu bị chặt đầu ba tôi bằng tuổi tôi bây giờ, ông có nhiều đêm ngồi thu lu trong bóng tối nhìn ra trời như tôi bây giờ.

Từ ngày bác Đông chết rồi con Lu chết, quanh ba không còn ai. Còn dị nhân Kiểm Hát nhưng dã chỉ thích chửi ba chứ không thích tâm sự. Dã chửi đúng và hay nhưng ba cần một lời khuyên. Không còn ai khuyên ba, quanh ông không ai dám khuyên ông. Người ta đến với ba để xin ý kiến chứ không phải để cho một lời khuyên. Chưa bao giờ ba đơn độc như lúc này. Ông thường lên tầng thượng nhà Ủy ban ngồi một mình suốt đêm hoặc đóng kín phòng làm việc nhâm nhi chai rượu thuốc suốt ngày, tuyệt không tiếp một ai.

Ba đâm nghiện nặng những bài diễn văn tràng giang đại hải, tràn ngập thứ ngôn từ hoa hòe hoa sói và trống rỗng, tự ông cũng thấy dài và rỗng nhưng không cưỡng được mỗi khi đứng trước đám đông. Nhiều lần theo ông về cơ sở tôi đã phát ốm vì chuyện này. Sau những đón tiếp linh đình là buổi nói chuyện của ba. Đúng là một buổi, từ khi ông cất giọng “thưa các đồng chí!” cho đến ông hạ giọng “cảm ơn sự chú ý của các đồng chí!” chưa khi nào dưới ba tiếng đồng hồ.

Tôi ngồi ở chiếc ghế trống cuối hội trường với một lô bánh trái và nước ngọt. Ở đâu tôi cũng được tiêu chuẩn một chiếc ghế trống không ai được ngồi ké, đó là nhờ lái xe của ba sắp đặt. Lái xe của quan đầu tỉnh cũng có uy quyền dưới một người trên muôn vạn người, có quyền can thiệp để cho tôi một chỗ ăn chơi thoải mái ngay trong cái hội trường chật chội, năm, sáu người ngồi chung một ghế. Tôi nhẩn nha ăn uống no nê, ngẩng lên vẫn thấy ba nói. Chán, tôi bỏ ra khỏi hội trường leo lên xe Com-măng-ca, nì nèo lái xe cho xe chạy vòng vòng quanh đấy. Lại chán, tôi lại chạy vào hội trường, ba vẫn nói say sưa. Tôi đánh một giấc dài, vùng dậy vẫn thấy ba nói.

Dần dà ba không còn là ba nữa, mặt ông cứ bạc dần đi, đôi mắt tươi sáng của ông khô héo dần đi. Phong thái khoan thai đài các của ông cũng biến mất, ông đi đứng tất bật mắt trước mắt sau ngó ngược ngước xuôi trông rất buồn cười. Sau những cuộc diễn thuyết tràng giang đại hải ba ngồi thu lu trong buồng im hơi lặng tiếng hàng giờ liền.

Một đêm khuya khoắt tôi tỉnh dậy không thấy ba đâu. Ngoài trời mưa to gió lớn, sấm nổi đùng đùng. Tôi gọi ba, không thấy ông trả lời. Giờ này ba vẫn hay leo lên tầng thượng một mình, mưa to gió lớn thế này không lẽ ông lên đó. Ba lên lên đó thật, tìm hoài không thấy ông đâu tôi liều leo lên tầng thượng, ông ngồi thù lù như con gấu đen ngửa mặt nhìn lên trời đang lẩm bẩm một điều gì. Tôi ngao ngán hết nổi.

Ba! Tôi gọi. Ông quay ngoắt lại xuỵt, ra hiệu im lặng. Nhìn quanh chẳng thấy gì, tôi kéo tay ba. Mưa ướt hết rồi, ba! Tôi nói. Im! Ông chỉ tay lên trời. Con Lu đang sủa đấy. Chưa bao giờ tôi thấy ba sợ hãi dúm dó đến vậy.Tôi ngước lên trời chẳng thấy gì ngoài ánh chớp lóe liên tục và tiếng sấm rền bốn bề. Ba xuống đi, mưa hết rồi. Tôi ra sức kéo tay ba đòi ông rời tầng thượng. Ba không chịu, ông mặt mày nghiêm trọng chỉ chỉ trỏ trỏ. Con Lu đó kìa, con không nhớ con Lu à? Ba xuống đi! Xuống ngay đi! Bực mình tôi hét to. Ba vụt đứng lên bắc loa gọi lên trời. Lu ơi trốn đi!... Trốn đi Lu ơi!... Ông chạy đi chạy lại, chạy đi chạy lại quay cuồng trên tầng thượng, suýt nữa đâm bổ xuống đất. Tôi sợ quá khóc òa. Tự nhiên giông gió cũng lặng phắc. Ba đứng như trời trồng, vài giây sau đổ sập xuống trước mặt tôi, cú rơi mạnh đến nỗi tôi tưởng ông tan ra từng mảnh.

*
Ba lên cơn sốt trong chín ngày, khỏi sốt lại mắc phải chứng bệnh lạ kì, chứng bệnh đã đẩy ba nhanh chóng rời bỏ quyền cao chức trọng, trở lại với một chút tước phẩm bèo bọt thấp hèn không phải quí phái càng không, ấy là chứng ghét ruồi.

Không ai ghét ruồi đến khốn khổ như ba. Hễ thấy ruồi là ông không chịu nổi, thế nào cũng tìm diệt bằng được. Dường như ruồi là mối bận tâm duy nhất và cuối cùng của ba. Tôi bốn tuổi không thể biết vì sao ba lại quan tâm đến ruồi làm vậy. Không một bữa cơm nào ba ăn được ngon miệng, một con ruồi xuất hiện là ông buông đũa bám theo, chưa bắt được ông chưa chịu bưng bát ăn tiếp. Loay hoay mãi có khi hơn nửa tiếng mới chụp được con ruồi. Vừa bưng bát lên lại có một con ruồi khác xuất hiện, ông lại buông đũa tìm diệt. Nhiều khi bữa ăn kéo dài hai, ba tiếng đồng hồ.

Việc tìm diệt ruồi chiếm gần hết thời gian ăn uống nghỉ ngơi của ba. Không một buổi nghỉ trưa nào ông được ngon giấc. Ba gầy tọp đi vì ruồi, suốt ngày đầu óc ông chỉ lởn vởn những con ruồi vồ trượt. Nếu thấy một con ruồi trong phòng làm việc, dù đến giờ cần phải ra khỏi phòng ba cũng mặc kệ, ông kiên trì đuổi bắt, bày mưu tính kế cực kì nghiêm túc nhằm tìm diệt kỳ được mới thôi. Bắt sống được ruồi ba mừng như vớ được của rơi, ông hoan hỉ nhét nó vào lọ Penicilin bé bằng ngón tay, cẩn thận nhét nắp cao su bịt kín lọ. Lúc nào ông cũng thủ sẵn lọ Penicilin đầy ruồi trong túi, thỉnh thoảng lôi ra say sưa ngắm nó hàng giờ. Khi có một con ruồi trong lọ giãy chết, đấy là thời khắc ba mê say tận hưởng với niềm cảm khoái không gì so sánh được.

Ba nâng cái lọ lên mắt chớp chớp miệng chóp chép hồi hộp chờ đợi. Con ruồi run lẩy bẩy, năm im giây lát lại run lẩy bẩy, chân và cánh duỗi ra rồi dần dần co quắp. Bất thình lình nó lật ngửa, cứng đơ. Ba thở phào nhẹ nhõm, mắt ông sáng long lanh, niềm hạnh phúc như người lính vừa xong một trận công đồn thắng lợi. Bắt ruồi bỏ lọ Penicilin trò chơi của con trẻ đến tôi còn chẳng buồn ngó đến, một ông già có bảy đứa con ( thực ra là mười đứa) lại say mê, thật kỳ cục. Càng kỳ cục hơn nữa khi ông già đó là ông quan đầu tỉnh. Ba thừa biết việc một ông quan đầu tỉnh lại say mê trò chơi bắt ruồi bỏ lọ rõ ngớ ngẩn điên rồ, khốn thay ông không tài nào kiềm chế được mỗi khi thấy ruồi.

Rất nhiều lần đến giờ đi công tác, lái xe vào phòng mời ba ra xe, thấy ông vẫn loay hoay dưới gầm giường với một con ruồi chết tiệt nào đó, nói thế nào ông cũng không chịu chui ra. Chú mần chi đó? Lái xe hỏi. Ruồi...ruồi nhiều lắm. Ba loay hoay dưới gầm giường phục bắt cho được một con ruồi. Đến giờ đi họp rồi chú! Lái xe giục. Ừ... nhưng mà ruồi nhiều lắm! Ông vẫn không chịu chui ra khỏi gầm giường. Thật không gì ngao ngán hơn. Thế cùng lái xe đành phải túm tay lôi ba ra khỏi phòng, nhét vào xe. Ba lên xe với nỗi ấm ức không gì làm cho khuây khỏa được, dọc đường cứ lẩm bẩm hàng giờ về con ruồi vừa thoát khỏi tay ông.

Buổi sáng một ngày như mọi ngày năm 1960, sáu trăm cán bộ cốt cán đang nín thinh nghe ba diễn thuyết món ngôn từ trống rỗng nhiều người đã thuộc lòng, họ có thể nói đúng y xì câu tiếp theo ông sẽ nói. Những bộ mặt nghiêm trang chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng khẽ gật đầu tán thưởng chẳng qua chỉ để giấu giếm nỗi ngán ngẩm vô biên. Tất cả sốt ruột chờ đợi mấy tiếng cuối cùng “cảm ơn sự chú ý của đồng chí!” để đồng loạt tặng ba tràng vỗ tay ngất trời thưởng cho công khó ông ba hoa suốt buổi, đồng thời thổi phồng niềm kiêu hãnh rỗng tuếch của ông.

Ba thừa biết người ta đang nghĩ gì, đang chờ đợi điều gì và sẽ làm điều gì cho các bài diễn văn trống rỗng và vô nghĩa, ông vẫn không cách gì kìm được. Ba vẫn hồ hởi phấn khởi kéo dài đến bài diễn thuyết gần như vô tận nếu không có con ruồi bỗng nhiên sà xuống đậu thản nhiên trên micro. Lập tức ba dừng lại. Một giây để định thần, một giây cho quyết tâm tiêu diệt. Sáu trăm cán bộ cốt cán không hiểu vì sao cấp trên đang cao giọng bỗng nhiên im bặt, tất cả nhìn ông lo lắng và căng thẳng. Ba vung hai tay đập cái bốp, micro rơi xuống đất còn con ruồi thì bay vụt ngược lên. Bây giờ người ta đã hiểu. Lác đác vài tiếng cười rúc rích. Ba rời bục diễn thuyết, chăm chú lần theo dấu vết con ruồi. Nó đang lượn vân vi, ra cái vẻ bất cần đời, cách mũi ông chủ tịch tỉnh không đầy một mét.

Sáu trăm cán bộ cốt cán đã hiểu ông quan đầu tỉnh đang làm gì. Một số người ngồi yên bịt miệng cười, số còn lại, tiếc thay là hầu hết hội trường, kẻ trước người sau rón rén theo ba. Ba đập tay cái bốp, liền sau tiếng đập tay của ông, đột khởi rộ lên tràng bốp bốp liên thanh. Ba lom khom đi trước, mấy trăm con người rón rén theo sau. Mỗi khi ông đập tay đánh bốp, mấy trăm tiếng đập đánh bốp rộ lên phù họa. Từ trên nhìn xuống thấy đám đông theo sau ba giống đám ruồi bám theo đuôi thằn lằn ngoe nguẩy khi xúm vào khi tản ra cùng với tiếng bốp bốp khi khoan khi nhặt, đúng là màn hí kịch cười ra nước mắt.

Tiếng đập ruồi nghiêm trang và quyết liệt kéo dài hết buổi sáng ngày hôm đó, thu được kết quả không ngờ: năm trăm hai mươi tám con ruồi gom lại được hai vốc đầy, nâng số lượng diệt ruồi của ba lên đến con số vạn, chính xác là một vạn hai ba ngàn hai trăm linh chín con cả thảy, đồng thời chấm dứt luôn sự nghiệp đẹp như mơ của ông.

*
Ba trở lại quê nhà với vai trò phó ban tuyên giáo huyện, thứ trọng trách dành cho một người thất thế chưa đến tuổi về hưu. Thế cũng còn may, lúc đầu người ta tính đưa ông ra trại tâm thần, nếu không cũng cho ông nghỉ mất sức.

Buổi chiều buồn thiu ba về nhà không bằng chiếc Com-măng-ca màu cứt ngựa, ông đạp xe đạp từ tỉnh lị về nhà, không ai tiễn cũng chẳng ai đón. Mạ đón ba ở cửa, lẳng lặng tháo cái ca táp sau yên xe đưa vào giúp ông. Mạ không một lần dám ngước lên nhìn ông, bà lúi cúi làm hết việc này đến việc khác, nơm nớp lo ông bỗng nhiên nổi đóa, rất dễ tan nát cả buổi chiều.

Ba ngồi tựa cửa nhìn ra đường, cái nhìn trống rỗng vô hồn. Mấy anh chị của tôi thấy ông về, mừng lắm nhưng không dám chào, đứng túm lại một góc, len lén nhìn. Chúng tôi sợ sệt nhìn nhau, chẳng ai hỏi vì sao. Mâm cơm đã dọn, không ai dám mở mồm mời ông một tiếng. Mạ cũng không dám, bà đánh tiếng bằng cách quát nạt con tại sao ăn cơm lại không mời ba. Chúng tôi rào rào mời ông ăn cơm. Ba ừ, nở nụ cười méo xẹo. Ăn đi con. Ba nói. Cứ ăn đi đừng chờ ba. Tuân lệnh ba cả nhà gắp gắp chan chan, không ai nói với ai. Mạ cắm mặt vào bát cơm, thỉnh thoảng bà liếc sang ông dò ý, thở dài một tiếng chừng như để ông nghe, rồi lại cắm mặt vào bát cơm. Bữa cơm chiều lặng ngắt như một bữa cơm tang.

Anh Chín cắm thìa trố mắt nhìn ba. Có mấy con ruồi đang sà xuống mâm, anh nhìn ba như hỏi sao ông không bắt. Anh Chín cúi xuống ngước lên, hết trố mắt nhìn ba lại trố mắt nhìn mấy con ruồi. Đến lượt anh Tám cũng cắm thìa hết nhìn ba lại nhìn mấy con ruồi. Rồi anh Bảy, chị Hai và mạ, ai nấy mải mốt hết nhìn ba lại nhìn mấy con ruồi. Ba không hiểu sao cả nhà cứ trương mắt nhìn ông. Ăn đi,... nhìn chi rứa! Ông lừ mắt với cả nhà. Không ai dám lên tiếng. Duy nhất anh Chín chỉ mấy con ruồi nói. Ba nhòi tề!... Ba nhòi tề! Ba lấy quạt xua mấy con ruồi. Ăn đi con. Ba nói. Ba sững lại mắt sáng lên, ông chợt nhận ra giờ đây ông không còn quan tâm đến ruồi nữa. Thôi đúng rồi, chứng ghét ruồi mới cách đây một ngày ông đang mắc phải giờ đây đã hết mất tiêu.
Ba cười, lúc đầu còn cười mũi khịt khịt sau cười họng khì khì, cuối cùng ông há miệng cười khơ khơ khơ, kha kha kha... cái cổ giật giật cái mặt rung rung, nước mắt sống chảy giàn giụa. Nhà tôi ai nấy cười theo ông. Tôi vừa cười vừa vỗ tay bem bép. Anh Chín vừa cười vừa quệt mũi. Anh Tám vừa cười vừa nhảy cà tẩng. Anh Bảy vừa cười vừa thở hắt ra. Chị Hai vừa cười vừa lau nước mắt. Mạ vừa cười vừa mơn trớn nhìn chồng, cái nhìn bị bà bỏ quên đã bốn năm nay.

Đêm đó ba chủ động xiết chặt mạ vào lòng thì thầm, em ơi... anh có lại rồi! Mạ nấc lên sung sướng. Ba dằn ngửa mạ ra đâm hối hả, đâm như chưa bao giờ được đâm, như đâm lần cuối để mà chết. Ba vừa đâm vừa khóc, tiếng khóc rực lên một nỗi si cuồng. Mạ cũng trào nước mắt, bà giật và rú, giật và rú... trong đầm đìa nước mắt. Lần đầu tiên cũng là lần duy nhất cuộc hôn nhân sáu chục năm nước mắt ba mạ tôi chứa chan hạnh phúc.

Thằng Út nhà tôi đang ở vị trí 161 bên trái buồng trứng của mạ bỗng nhận được luồng khí mát rượi cùng với một vầng sáng màu lá mạ tỏa sáng rực rỡ. Lúc đó đúng 3 giờ 11 phút sáng, nó nhớ như in, đó là thời khắc nó nhận được chứng chỉ làm người. Sau này thằng Út cũng thành nhà văn, nó đã kể cho tôi nghe giây phút đó.

Linh Đàm 2010-Thảo Điền 2015