Có hay không châu Thuận Chính và việc thống nhất đất nước của Quang Trung?





Sách Đại Nam nhất thống chí, cuốn III phần Diên Cách, chép: “ Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ đánh đuổi người Trịnh về Bắc, chiếm cứ đất này, cũng gọi là Động Hải, lại hợp hai châu Nội Bố Chính và Ngoại Bố Chính1 làm châu Thuận Chính”. Căn cứ vào đây các nhà sử học và dư địa chí đều đinh ninh có một châu Thuận Chính thời Tây Sơn ở tỉnh Quảng Bình. Việc Quang Trung xoá bỏ giới tuyến Sông Gianh, thống nhất hai miền Nam- Bắc nước nhà là lẽ đương nhiên, không cần phải bàn cãi.

Tuy nhiên. Tra cứu hầu khắp sách sử và dư địa chí nước nhà đều không nhắc tới việc hợp nhất hai châu Bắc- Nam Bố Chính của Nguyễn Huệ- Quang Trung. Sách Đại Nam nhất thống chí là sách Dư địa chí chỉ viết gọn một câu vậy chứ không chỉ ra ngày tháng năm nào xảy ra việc Quang Trung thống nhất hai châu nói trên. Đại Việt sử Kí toàn thưKhâm Định Việt sử thông giám cương mục là hai bộ sử được xem là chính sử của nước ta cũng không hề nhắc đến. Đặc biệt bộ Đại Nam thực lục là bộ biên niên sử kĩ lưỡng nhất từ thời các chúa Nguyễn đến thời các vua Nguyễn cũng tuyệt không nhắc đến.


Vậy có hay không châu Thuận Chính từ việc hợp nhất hai châu Nam- Bắc Bố Chính của Quang Trung? Xem lại sử xưa, kể từ năm 1786 Tây Sơn giành được Phú Xuân, có ba lần Quang Trung ra Bắc2 thì cả ba lần đều gấp gáp vội vã, chiến sự đang kỳ gay cấn, chưa phải lúc nghĩ đến việc quản trị đất nước. Hơn nữa trước 1788, Nguyễn Huệ còn dưới trướng Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc, quản trị đất nước không phải việc của ngài.


Tới tháng 11-1788 Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, được Nguyễn Nhạc cho quản lý từ Quảng Nam ra Bắc, cũng là lúc Nhà Thanh xâm lược. Ngài phải đi đánh giặc lớn, việc quản trị đất nước tất nhiên để sau. Sau đại thắng quân Thanh 1789, Nguyễn Huệ vẫn tứ bề thọ địch. Phía Bắc vua Lê được nhà Thanh nuôi dưỡng quậy phá đủ cách. Phía Nam Nguyễn Ánh nhờ Pháp bảo trợ, lớn mạnh không ngờ. Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc thua liểng xiểng. Nguyễn Huệ chưa kịp ra tay thì đột tử.


Trong một không gian lịch sử chật hẹp ( 3 năm!) và khốc liệt như vậy, không một nhà vua nào có thể tính việc sửa sang địa chính tách châu này nhập châu kia. Và việc này mới quan trọng: Trước đó chục năm, Trịnh Sâm đã cho nhập hai châu Nam- Bắc Bố Chính rồi. Sách Đại Việt sử ký tục biên chép: ” Định Dậu, năm[Cảnh Hưng] thứ 38 (1777)(…) Trước kia, Bắc Bố Chính thuộc Nghệ An, Nam Bố Chính thuộc Thuận Hoá. Đến nay bầy tôi bàn hợp lại làm một, đều cho lệ vào Hà Hoa, trấn Nghệ An. Trịnh Sâm y cho.” Lẽ nào chục năm sau Quang Trung lại làm một việc thừa?


Trịnh Sâm không nói gì đến châu Thuận Chính. Tới năm 1801 vua Gia Long cũng không nói gì đến châu Thuận Chính, vua chỉ cho thay tên hai châu Nam- Bắc Bố Chính, thành Nội- Ngoại Bố Chính, cho thuộc vào Quảng Bình.


Thực ra việc nhập hai châu Nam- Bắc Bố Chính chỉ có tính biểu tượng về việc thống nhất đất nước mà thôi. Hiểu theo nghĩa thực sự quản lý được một đất nước thống nhất thì, Trịnh Sâm không thống nhất được đất nước cho dù 1774 dẹp được nhà Nguyễn chiếm được Phú Xuân. Nguyễn Huệ cũng không thống nhất được đất nước cho dù 1787 dẹp được nhà Trịnh chiếm được Thăng Long.

Vẫn hiểu theo nghĩa đó, Gia Long mới thống nhất đất nước kể từ khi ngài lên ngôi vào 1802. Ngài đã giữ được vẹn toàn đất nước cho tới khi cháu chắt ngài để mất nước vào năm 1885.


Nguyễn Quang Lập

…………………..
(1) Hai châu Nam Bắc Bố Chính thuộc Bắc- Nam Sông Gianh thời Trịnh- Nguyễn phân tranh 1558- 1672 và hơn trăm năm sau đó.
(2) Lần thứ nhất năm 1786, Quang Trung đi bằng đường biển, ngài không qua châu Bố Chính như nhiều người nhầm tưởng. Sách Đại Nam thực lục chép: “Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân Tây Sơn theo đường biển thẳng tới đô thành An Nam (tức tỉnh lỵ Hà Nội ngày nay). Nguyễn Văn Huệ sai Nguyễn Văn Lữ giữ Phú Xuân, tự đem thủy binh tiến kế ra.” Sách Đại Việt sử ký tục biên chép rõ hơn: Nghe Nguyễn Hữu Chỉnh bàn đem quân ra Bắc, “Huệ là người quả quyết. Nghe Chỉnh nói đúng ý mình. Bèn sai Hữu Chỉnh đem thuỷ binh Tuyên phong ra cửa Đại An còn Huệ tự thống lĩnh đại quân vượt biển tiến theo.”



Thương nhớ mưa phùn

Tuỳ bút Nguyễn Quang Lập




Giữa trưa đầy nắng Sài Gòn chị bán cà phê vỉa hè chợt nói, sắp tháng chạp rồi nè. Thốt nhiên lòng  se lại. Ừ nhỉ, tháng chạp sắp về rồi. Mưa phùn sắp về với Hà Nội rồi. Tôi đã đi qua hầu khắp những miền quê có mưa phùn. Chẳng biết có thiên vị không, trước sau tôi vẫn đinh ninh nói đến mưa phùn là người ta nhớ ngay đến Hà Nội.

Nhớ mùa sim chín của Nguyễn Quang Lập

Trần Thị Thuý Diễm




Kí ức như vị ngọt lịm nơi đầu lưỡi của sim chín. Nó luôn khiến ta thích thú, bồi hồi khi nhớ về. Những dòng mưa nỗi nhớ ấy đã tuôn trào dạt dào trong cuốn sách “Nhớ mùa sim chín” của Nguyễn Quang Lập.

Dòng sông tuổi thơ với những tháng ngày nghèo khó hiện lên với biết bao sự kiện ngập tràn trong nhung nhớ. Cảnh mấy anh em Lập thòm thèm giành nhau chiếc bánh Trung Thu hay Lập mong ước có được chiếc đèn ông sao để khoe chúng bạn... sao mà giống tôi hồi nhỏ quá đỗi. Đọc mà thấy thương vô cùng.

Cuốn sách cuốn tôi vào miền kí ức ấu thơ của tác giả. Ở đó, có kỉ niệm thơ bé, ông cùng rong chơi với cái Hà, cái Nhím, những ngày tết háo hức ngắm nhìn cây nêu, sung sướng khi được mặc áo mới, được nhận lì xì.

Lấp lánh trong nỗi nhớ còn có kỉ niệm buồn về chú chó Giôn, người bạn thuở ấu thơ, sự cảm phục trước tấm lòng của Đức, chàng trai dám bỏ mười bảy tỷ để dựng lại đình làng khi nó chẳng còn lại gì sau bom đạn chiến tranh. Và còn biết bao kỉ niệm nữa ùa về trên trang giấy như cả vườn hoa nở rộ khoe sắc khoe hương.

Có nỗi nhớ nhẹ nhàng như gió phớt qua, có nỗi nhớ ngọt dịu như hương quỳnh thoang thoảng trong đêm, có nỗi nhớ gợi lên sự day dứt, xót xa… Tất cả quyện hoà thành một vùng trời ửng hồng tuổi thơ.

Những câu chuyện được kể lại bằng giọng chân thành, sử dụng nhiều phương ngữ Quảng Bình. Những câu văn không hề màu mè, không cố ý trau chuốt sóng sượng mà bình dị như lời ăn tiếng nói hằng ngày, giàu sắc màu địa phương, góp phần thể hiện tình yêu quê hương của tác giả.

“Nhớ mùa sim chín” là một tác phẩm dễ đọc, dễ cảm và dễ đi sâu vào lòng người. Thứ nhựa cuộn trào làm nên sức sống cho cuốn sách chính là tình cảm tự nhiên và chân thật vô ngần.

Con chim xanh biếc bay về… tuổi yêu




Trước đây tôi đã ví văn xuôi Nguyễn Nhật Ánh như một con tàu hơn một trăm toa - mỗi toa là một cuốn sách - đi từ ga mộng mơ của tuổi lên mười, qua ga rắc rối của tuổi teen, tới ga tình của tuổi yêu. Đến nay vẫn thấy đúng nếu hiểu ga và toa của “con tàu văn chương” Nguyễn Nhật Ánh theo thời gian của ký ức, không theo thời gian xuất bản sách.
Theo đó, ga tình cũng có hai chặng. Chặng đầu cho tuổi chớm yêu với Cây chuối non đi giày xanh, Bảy bước tới mùa hè, Hạ đỏ, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh... Chắc sẽ còn nhiều nữa, vì viết cho tuổi chớm yêu là sở trường của Nguyễn Nhật Ánh. Chặng sau cho tuổi yêu, chặng quyết liệt nóng rãy nhất cũng là chặng ngọt ngào đằm thắm nhất, bắt đầu với Mắt biếc, Ngồi khóc trên cây, Ngày xưa có một chuyện tình, và bây giờ là Con chim xanh biếc bay về.
Con chim xanh biếc bay về Lối đi riêng của Nguyễn Nhật Ánh

Viết cho tuổi yêu không là “độc quyền” của Nguyễn Nhật Ánh. Hầu hết các nhà văn đều viết cho tuổi yêu như Margaret Mitchell (Mỹ), Emily Bronte (Anh), hay dành cả đời mình cho tuổi yêu như Murakami (Nhật Bản)... Điều đó cho thấy nhà văn của tuổi thơ  đang gặp thử thách không hề nhỏ. Nhưng tuồng như Nguyễn Nhật Ánh không phải lo lắng gì, anh có sẵn lối đi cho tuổi yêu của riêng anh, một tình yêu khởi nguồn từ tuổi thơ, có nguyên cớ từ tuổi thơ, cùng triết lý nhà Phật từ - bi - hỷ - xả dành cho mỗi người trước ngưỡng cửa tình.
Có thể gói gọn mối tình trong Con chim xanh biếc bay về trong bốn chữ từ - bi - hỷ - xả với mối tình tay tư trong một bối cảnh Sài Gòn ngày nay; đó là hai khác lạ so với tất cả toa tình lớn bé trước đó của con tàu văn Nguyễn Nhật Ánh.
Khác lạ dễ thấy nhất là bối cảnh, ấy là một quán ăn nho nhỏ với mấy cái chợ quen quen giữa Sài Gòn thời nay. Bối cảnh thật khô khan với chuyện tình, không non xanh nước biếc, không mờ ảo sương khói của quá vãng như mọi chuyện tình khác của mọi nhà văn, và của Nguyễn Nhật Ánh. Ngay cả Murakami viết chuyện tình tới bậc thượng thừa cũng chưa bao giờ dám dùng một bối cảnh khô khan như thế.
Dám dùng bối cảnh khô khan đó để chuyên chở chuyện tình là một nỗ lực đáng khen của Nguyễn Nhật Ánh nhằm gỡ bỏ thói quen, tìm kiếm một lối riêng không giống mình và không giống ai. Rất mừng anh đã thành công. Chuyện tình tay tư rối như canh hẹ được chứa trong một bối cảnh quá ư đơn giản vẫn lãng mạn như thường, vẫn hút hồn người ta suốt 396 trang sách, kể cả hơn 100 trang trữ tình ngoại đề luôn có trong sách Nguyễn Nhật Ánh.
Tình trong Con chim xanh biếc bay về không là tình đau, tình đắng, tình cay, thứ tình muôn năm trong muôn ức vạn chuyện tình với niệm chú “yêu là chết trong lòng một ít” (Xuân Diệu) vốn được coi như một lẽ đương nhiên. Những chuyện tình đau-đắng-cay quen đến nỗi rất khó được bạn đọc cho là chuyện tình nếu thiếu một trong ba món đó, ấy vậy mà Nguyễn Nhật Ánh đã dám không xài. Ấy là sự khác lạ thứ hai.
Không có đau-đắng-cay nhưng hương vị của chúng vẫn đầy ắp trong câu chuyện tình tay tư này. Nói khác đi, những đau, đắng, cay thoắt xuất hiện thoắt biến mất nhờ nỗ lực sống vì nhau của mỗi người lấy tứ vô lượng tâm nhà Phật làm căn bản, chính là từ - bi - hỷ - xả. Tình nhờ vậy “không chết trong lòng một ít” mà còn đầy thêm lên, chan chứa tình người, tình đời.
Nói thêm cho rõ, tình trong Con chim xanh biếc bay về vẫn chỉ là tình tay ba như mọi chuyện tình xưa nay vì Tịnh trong câu chuyện không tham gia với tư cách người tình, nhưng Tịnh là chìa khóa của bộ ba Sâm - Khuê - Quyền; cô là người không thể thiếu khiến mối tình tay ba nghiễm nhiên trở thành mối tình tay tư. Thú vị là ở đó!
Trở lại với sự khác biệt thứ hai. Tình trong Con chim xanh biếc bay về là tình đầy, tình của từ - bi - hỷ - xả. Các nhân vật trong đó có thể lấy làm biểu tượng của tứ vô lượng tâm. Sâm là biểu tượng Metta (từ), sống vì người, yêu để dâng hiến. Bị xa lánh, bị mất mẹ, bị thù ghét, chưa một lần Sâm than thở, đừng nói giận hờn. Khuê là biểu tượng Karuna (bi), bền gan rũ bỏ buồn đau ra khỏi mình và ra khỏi người mà mình yêu thương. Với Khuê, mọi bực bõ, giận hờn với Sâm với Tịnh, cả với Quyền nữa, chỉ là nguồn gốc của yêu thương, của tha thứ. Tịnh là biểu tượng Mudita (hỷ) suốt đời lấy vui sống làm căn bản. Tất cả niềm vui của Khuê, Sâm và Quyền đều là niềm vui của cô. Quyền là biểu tượng Upekkha (xả), tự mình thoát khỏi sai lầm, vượt qua nỗi đau mất bố mẹ giàu sang, tìm hạnh phúc yêu thương với người bố nghèo khó. Hạnh phúc được làm con là hạnh phúc to lớn nhất trần đời, bất kể bố mẹ là ai. Cái “xả” của Quyền thật cảm động.
Từ - bi - hỷ - xả đã giúp cho Quyền - Khuê - Sâm có được không chỉ một mối tình mà bốn mối tình đầy. Cả bốn người không ai mất gì cả, trái lại mỗi người có gấp đôi hạnh phúc mà họ mong đợi. Bí mật này đọc đến trang cuối bạn đọc sẽ nhận ra. Đấy cũng là bí mật cho thấy vì sao đội ngũ người hâm mộ Nguyễn Nhật Ánh ngày một đông đúc trong hơn ba chục năm anh cầm bút.
 (Sài Gòn, ngày sinh nhật con gái)

Vào hội nhà văn






 Chẳng hiểu từ bao giờ có luật bất thành văn: ai là hội viên hội nhà văn mới được gọi nhà văn, còn lại là cây bút, cây bút trẻ, chiếu cố lắm mới được gọi nhà văn trẻ.

Đơn Dương, kiếp sau nhé!




 Chiều nay Hồng Ánh gọi điện cho mình, nói anh Đơn Dương mất rồi. Mình lặng đi mấy giây rồi hỏi, mất làm sao, vì sao mất? Ánh nói anh Dương bị tai biến,  ảnh kêu đau đầu rồi lịm đi. Đưa bệnh viện cấp cứu, bệnh viện mổ xong, ảnh đã tỉnh. Nhưng chỉ vài giờ sau thì hôn mê, bệnh viện bó tay.

Sông Hàn chiều nay



 

 

Đang ở Đà Nẵng, trong một khách sạn nghèo với Trung Trung Đỉnh. Năm giờ sáng đã mò dậy, lo viết nốt bài gửi sớm cho B.H vì mình biết khoảng hai tiếng nữa là bạn bè kéo đến bù khú tối ngày, không làm được việc gì.

Make love và take off





Nghiệm ra trong suốt đời mình, hễ việc gì mà mình cố đều thành cả, trừ việc học ngoại ngữ. Không biết cái đầu mình cấu tạo bằng chất gì mà không sao nuốt nổi món ngoại ngữ. Việc học ngoại ngữ của mình na ná việc cai thuốc lá vậy, học đi học lại bao nhiêu lần tóm lại how are you vẫn hoàn how are you

Chuyện trồng người và việc tăng học phí



 

 

 

Mấy ngày nay thiên hạ bàn tán xôn xao việc tăng học phí, mỗi năm tăng một ít, hu hu không nghe nói chất lượng giáo dục tăng hàng năm chỉ nghe nói học phí tăng hàng năm thôi. Năm tới mức học phí đại học tăng 2, 3 lần, mới nghe đã giật mình toát cả mồ hôi.

Còn nhớ ngày xưa đi học, sinh viên đi học không phải trả học phí, mình là dân Quảng Bình còn được hưởng “lương” một tháng 4 đồng, bằng 4 trăm ngàn bây giờ chứ không ít.  Đứa nào học giỏi còn được hưởng học bổng một tháng hăm hai đồng, đi học còn có tiền gửi về giúp bố mẹ, ngày nay nghe như chuyện trên trời nhưng xưa thì có đấy.

Thằng Viết (Nguyễn Xô Viết) bạn mình ra học Đại học Bách khoa, ba mẹ bà con cho 300 đồng, tiêu nửa năm hết có ba chục đồng. Nó không hút thuốc nghiện chè, tiêu tiền chủ yêu đi xe điện, xe bus. Thời đó xe bus một hào, xe điện 5 xu đi mệt nghỉ. Thấy dư tiền nó gửi về nhà 200 đồng “giúp ba mẹ cho các em ăn học.” Chuyện này xưa nay hiếm. Kể vậy để biết đi học ngày xưa không cần phải nộp một khoản nào cả, kể cả  giáo trình tài liệu cũng được phát không.

Ngày nay ai cũng ngán thời bao cấp, nghe nói đã phát sợ, có chuyện gì hay ho thời bao cấp cũng chẳng tin. Thực thì thời đi học đại học ngày xưa là giấc mơ hiếm thấy của sinh viên thời nay.

Ăn uống cũng không phải lo, đến bữa cứ việc xách miệng đến nhà ăn thôi. Mình học ở Bách Khoa Hà Nội không cần mang bát đũa, cứ tay không đến ăn, ăn xong thì thả mâm bát đó về, có người rửa bát đũa cho rồi. Nếu cầm bát đũa lên thấy dơ, dính mỡ lập tức doạ mấy cô nhà ăn, nói sẽ báo cáo nhà trường, các cô sợ bằng chết, hi hi.

Ngày xưa nghèo khổ, dân phải ăn độn bo bo, độn sắn ngô, chỉ có sinh viên và bộ đội là được ăn cơm 100%. Bộ đội phải đánh giặc giữ nước ưu tiên là phải rồi, sinh viên cũng được ưu tiên y chang bộ đội, chuyện đó ngày nay không ai hiểu.

Thư cụ Hồ gửi sinh viên học sinh năm 1946, năm đầu độc lập, phàm là học trò không ai là không nhớ.Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần rất lớn công học tập của các cháu”. Nhớ nguyên xi từng chữ không quên không lộn chữ nào vì tin tưởng vô cùng cụ Hồ không hề nói suông. Quả thật thời cụ Hồ còn sống,  giáo dục y tế nước dù rất thiếu thốn nhưng lúc nào cũng chứng minh được cụ Hồ không thèm nói suông với sinh viên học sinh.

 Thấm nhuận lời dạy cụ Hồ, học trò đứa nào đi học cũng đinh mình đi học là cho đất nước, thấy vừa oách vừa lo. Học cho mình thì quấy quá thế nào cũng xong, chứ học cho Đất nước không thể tào lao chi khươn được. Thành thử đứa nào đứa nấy lo bò ra học, cứ mỗi mùa thi đứa nào cũng sụt vài ba cân là chuyện thường.

Thầy cô đi dạy cũng thế, chả ai nghĩ đi dạy để kiếm cần câu cơm, lương tháng năm đồng ba cọc câu cơm cái gì, đi dạy cũng  làm theo lời Bác là trồng người. Bác nói rồi, “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Trồng cây vớ vẩn đã chẳng thành rừng, huống hồ trồng người, cô thầy ai cũng lo lắm, nhiều người mất ăn mất ngủ vì học trò.

Thành thử không có chuyện chạy điểm mua điểm, suốt năm năm học Bách Khoa mình chưa nghe hai tiếng giới hạn bao giờ, học bao nhiêu thi bấy nhiêu chẳng giới hạn giới heo gì hết. Toàn thi vấn đáp thôi, bắt thăm đề thi may nhờ rủi chịu, cứ hai thầy một trò các thầy vặn cho đến toát mồ hôi, nảy đom đóm mới mong kiếm được điểm 4, điểm 5 ( Ngày xưa điểm số hệ số 5).

Mình nhớ năm thứ hai thi toán Lý thuyết nhóm, cô bồ của mình ở Sơn Tây mổ ruột thừa mình phải lên chăm sóc, đến ngày thi bò về thi, bắt phải cái đề khó làm không ra bị điểm hai, mình không khóc mà cô dạy toán mình lại khóc. Kể vậy để nói ngày xưa đói nghèo cực khổ nhưng học thật thi thật, thành thử đứa nào trụ được sau này đều ăn ra làm nên cả.

Ngày nay đi học là để ấm vào thân, vinh thân phì gia triết lý của thời nay. Dạy và học theo quan điểm “thị trường là tất cả”, người ta lý luận “giáo dục là hàng hóa”, anh đi học là mua, anh đi dạy là bán. Có điều người bán tha hồ tăng giá, người mua không có quyền mặc cả, chất lượng “ hàng” xuống cấp không được kêu, ai kêu thì xin good bye go home.

Đã thế thì đừng nói đến trồng người. Ai đời thưở người trông cây lại bắt cái cây trả tiền công. Thế sau này cái cây ra quả thì ai ăn quả đây, không lẽ cái cây ăn lấy một mình? Bố mẹ cũng chỉ được hưởng một vài quả thôi, còn lại thì ai hưởng nhỉ?  Tới nay lại nhớ lời cụ Hồ năm 46, giản dị ấm áp mà vô cùng quan thiết. Tiếc thay nhiều người làm giáo dục ngày nay hoặc đã quên mất hoặc cứ nghĩ đó cũng chỉ là lời nói suông như vô số lời nói suông của họ.

Giáo dục là chuyện trồng người, không thể là chuyện bán mua. Đã bán mua tất nhiên có mua điểm mua bằng mua đủ thứ, miễn có tiền thì mua được tất. Chỉ béo mấy anh nhà giàu, dốt mấy mà có tiền cũng xong hết. Khổ mấy anh nhà nghèo, nhiều đứa học giỏi như trời không tiền đành bỏ học. Học phí  tăng một học trò bỏ mười, kinh doanh như rứa là lời hay lỗ nhỉ?

Nói gì thì nói, dù xã hội hoá kiểu gì mà giáo dục chỉ loay hoay việc mua bán là không có được. Nhiều người cứ khăng khăng chỉ vì học phí thấp, thu không đủ chi, nên chất lượng giáo dục mới thấp. Nói thế là quên mất lời Bác dặn rồi, không lẽ lại nói Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần rất lớn vào… việc tăng học phí!
Hu hu.

Chuyện lạ có thật



 

Báo Tuổi trẻ đưa một cái tin làm tui ngồi ngẩn ngơ, mừng và cảm động, ấy là việc công an Q.6 Sài Gòn xin lỗi dân. Sự việc như ri: Trong hồ sơ của Công an Q.6, từ mười năm trước có một vụ việc lừa đảo và bên bị hại khai người lừa đảo xưng tên Võ Văn Hùng, sau đó Công an xã Xuân Tâm cũng xác nhận ở ấp 3 có ông Võ Văn Hùng nên công an quận đã ra lệnh truy nã và dẫn đến việc bắt nhầm ông Hùng vào ngày 12-11. Té ra bắt lộn. Rứa là công an Q.6 đến tận nhà ông Hùng xin lỗi.